Chia Sẻ - Suy Tư

40 năm sau Công Đồng Vatican II Ba Lan hôm qua - Việt Nam hôm nay Lịch sử phong trào Đại Kết Đạo Hiếu - Thần Học Tam Phụ
Lương Thực Tâm Linh Đời Vẫn Đáng Sống Đàm Hoa Lạc Khứ Tragedy or Blessings ?
Bụi Đất và Hư Vô Chết Đâu Phải Là Hết! Vợ Đẹp Nhưng... Quá Ngu! Người Mẹ Việt Nam

menu

40 năm sau CÔNG ĐỒNG VATICAN II


Một trong những cải tổ lớn lao và sâu xa trong Giáo Hội ngày nay là Công Đồng Vatican II. Công Đồng đă xảy ra cách đây 40 năm, nhưng cho tới nay, dường như tinh thần của Công Đồng Vatican II chưa được nghiên cứu và áp dụng một cách sâu rộng trong đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn của Giáo Hội Việt Nam. Thiết tưởng vào dịp kỷ niệm Công Đồng Vatican II vừa tṛn 40 năm, ta nên t́m hiểu lại về Công Đồng để theo kịp những đổi mới của Thánh Thần trong việc sống đời Ki-tô hữu cũng như trong việc tổ chức Giáo Hội.
NGUYỄN CHÍNH KẾT


Thiên Chúa nói với con người mỗi thời mỗi cách
Thiên Chúa điều khiển lịch sử, đặc biệt lịch sử Giáo Hội. Và Thiên Chúa đă mạc khải về chính Ngài, về kế hoạch của Ngài, đồng thời giáo dục con người một cách tiệm tiến qua lịch sử. Đời sống của toàn nhân loại giống như đời sống của một con người, khởi đầu sinh ra không biết ǵ hết, nhưng cứ mỗi ngày mỗi thu thập một số kinh nghiệm và kiến thức qua các giác quan, nhờ vậy biết nghe, biết hiểu, rồi biết nói, biết đọc, biết viết. Càng ngày trí thông minh càng phát triển, đứa bé bắt đầu đi học, từ lớp mẫu giáo đến cấp 1, rồi cấp 2, cấp 3, rồi đại học, v. v… Thế giới cứ mỗi ngày mỗi mở rộng ra trước tâm trí của nó. Kiến thức của nó nhiều khi phải thay h́nh đổi dạng để trở nên tiến hóa và phức tạp hơn.
Nhân loại cũng tiến hóa về mọi mặt: thể chất, tinh thần, kiến thức, trí tuệ, tâm linh… Con người bước từ thời kỳ ăn lông ở lỗ, đến thời kỳ đồ đá, sang thời đồ đồng, đồ sắt, qua biết bao thời đến thời biết sử dụng điện, động cơ nổ, điện thoại, tivi, máy vi tính… Kiến thức và sự hiểu biết của con người tiến hóa không ngừng. Về mặt tâm linh con người cũng tiến hóa từ thấp đến cao, thô sơ đến phức tạp…
Sự hiểu biết về Thiên Chúa của con người cũng tiến hóa từ thấp đến cao tương tự như vậy. Con người tự t́m hiểu về Thiên Chúa qua tự nhiên một phần, và chính Thiên Chúa mạc khải cho con người về Ngài, về kế hoạch của Ngài một phần khác. Nếu chỉ t́m hiểu Thiên Chúa qua sức tự nhiên của ḿnh, con người sẽ hiểu về Thiên Chúa một cách hết sức giới hạn. Nhưng Thiên Chúa muốn cứu độ con người, nên Ngài đă mạc khải cho con người suốt ḍng lịch sử. Và Ngài mạc khải một cách tiệm tiến, song hành với tŕnh độ hiểu biết hay văn hóa của con người.
Theo thánh Phao-lô, th́ «thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đă phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đă phán dạy chúng ta qua Thánh Tử Giê-su» (Dt 1,1-2a). Thật vậy, Thiên Chúa đă mạc khải cho con người mà cụ thể là dân Do Thái qua các tổ phụ (A-bra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp…), rồi qua Mô-sê và Gio-suê, rồi qua các phán quan, các vua, rồi qua các ngôn sứ (khởi đầu là Ê-li-a, Ê-li-dê, rồi A-mos, Ô-dê, rồi I-sa-i-a, v. v…), và sau cùng là qua Đức Giê-su, Con Thiên Chúa. Cả một lịch sử dài mấy ngàn năm năm như vậy, mỗi lần mỗi cách Thiên Chúa mạc khải cho con người một ít. Đó là phương pháp sư phạm của Thiên Chúa, v́ con người không thể tiếp thu một lúc quá nhiều kiến thức về Thiên Chúa, cũng như một học sinh không thể tiếp thu trong một tuần kiến thức của cả một năm học, lại càng không thể tiếp thu chương tŕnh của cả một cấp. Ngay cả tới thời Đức Giê-su, tuy dù mạc khải của Đức Giê-su là mạc khải viên măn, nhưng viên măn ở đây không có nghĩa là mạc khải tất cả những ǵ liên quan đến Thiên Chúa, mà chỉ được hiểu là tất cả những ǵ cần thiết và đủ để con người được cứu rỗi. V́ con người t́m hiểu thế giới hữu hạn này suốt cả mấy chục thế kỷ mà mới chỉ biết được một phần tỷ so với những ǵ chưa biết, lẽ nào kiến thức về Thiên Chúa vô hạn lại có thể gói gọn trong một số lời gồm mấy trăm câu nói của Đức Giê-su. Chính Đức Giê-su đă từng nói: «Thầy c̣n nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi» (Ga 16,12). Chính v́ thế, để tiếp tục công việc mạc khải cho con người, Ngài mới hứa: «Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn» (Ga 16,13).
Thánh Thần nói với con người thời đại qua các Công Đồng chung
Như vậy, sau việc mạc khải của Đức Giê-su, th́ việc mạc khải tiếp theo là do Thần Khí trong Giáo Hội. Thần Khí không tự ḿnh nói ra giống như Đức Giê-su, mà Ngài linh ứng cho người này người kia, hoặc tập thể này tập thể kia nói lên những điều Ngài muốn nói. Nhưng nhân vật chính thức nhất, được Ngài linh ứng nhiều nhất để nói lên tiếng nói của Ngài cho toàn dân Chúa là tiếng nói của các Công Đồng chung và của các Đức Giáo Hoàng, người đại diện Đức Ki-tô ở trần gian. Qua các Công Đồng chung và các Đức Giáo Hoàng, Thiên Chúa vẫn tiếp tục mạc khải cho nhân loại phù hợp với tŕnh độ tâm linh và văn hóa của họ, để đưa nhân loại tiến gần hơn «tới sự thật toàn vẹn» (Ga 16,13). Do đó, Công Đồng chung chính là phương tiện chính thức mà Thánh Thần dùng để nói với con người thời đại.
Trong lịch sử Ki-tô giáo, trước Công Đồng Vatican II đă có 20 Công Đồng chung: Công Đồng đầu tiên là Công Đồng Nicea I (năm 325), và Công Đồng cuối cùng vào lúc đó là Công Đồng Vatican I (năm 1870). Công Đồng Vatican II là Công Đồng chung thứ 21 (năm 1962-1965). Công Đồng chung là một đại hội thượng đỉnh trong Giáo Hội gồm vị giáo hoàng đương nhiệm và các huynh đệ của ngài là các giám mục ở khắp nơi trên thế giới. Các vị họp nhau lại để cùng nhau giải quyết những khó khăn nghiêm trọng đang xảy ra trong Giáo Hội (chẳng hạn khi phải đối diện với các bè phái lạc giáo, hoặc khi có sự ly khai lớn trong Giáo Hội) để cùng đi đến những quyết định sáng suốt cho những vấn đề quan trọng ấy. Giáo hoàng và các giám mục họp nhau như thế là theo gương của các tông đồ xưa.
Trong sách Công Vụ Tông đồ đoạn 15 có kể việc các tông đồ họp nhau lại để cùng quyết định một vấn đề quan trọng. Ki-tô giáo xuất thân từ Do Thái giáo, nên ngay từ thời kỳ đầu, có chuyện xảy ra là các Ki-tô hữu gốc Do Thái giáo đ̣i hỏi các Ki-tô hữu gốc ngoại giáo rằng: «Nếu anh em không chịu phép cắt b́ theo tục lệ Mô-sê, th́ anh em không thể được cứu độ» (Cv 15,1). Những người Pha-ri-siêu trở lại Ki-tô giáo c̣n chủ trương: «Phải làm phép cắt b́ cho người ngoại và truyền cho họ giữ luật Mô-sê» (15,5). Như vậy là muốn theo Đức Giê-su th́ cũng phải theo Do Thái giáo, cũng phải giữ luật Mô-sê. Thế th́ Tân Ước c̣n cồng kềnh và nặng nề hơn Cựu Ước vốn đă cồng kềnh và nặng nề lắm rồi! Đức Giê-su đến để giải phóng con người khỏi ách của lề luật, lẽ nào theo Ngài lại phải giữ nhiều lề luật hơn: vừa luật cũ, lại vừa luật mới! Chính v́ thế «Các Tông Đồ và các kỳ mục bèn họp nhau để xem xét vụ này» (15,6). Trong cuộc họp, các tông đồ đều lên tiếng nói ư kiến của ḿnh: sách Công Vụ chỉ ghi lại hai bài diễn từ của Phê-rô và Gia-cô-bê, chắc hẳn là hai ư kiến tiêu biểu nhất của các tông đồ. Cuối cùng, quyết định của hội nghị được tổng kết thành một lá thư, trong đó có viết: «Thánh Thần và chúng tôi đă quyết định không đặt lên vai anh em một gánh nặng nào khác ngoài những điều cần thiết này: là kiêng ăn đồ đă cúng cho ngẫu tượng, kiêng ăn tiết, ăn thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm. Anh em cẩn thận tránh những điều đó là tốt rồi» (15,28-29).
Công Đồng chung Vatican I (1870) là một Công Đồng bị dở dang, chưa hoàn tất, và phải đ́nh hoăn vô thời hạn v́ một biến cố chính trị xảy ra tại Ư: giáo phận Rôma bị sát nhập vào vương quốc Ư. Công Đồng này mới chỉ bàn về vấn đề quyền tối thượng và ơn bất khả ngộ của Đức Giáo Hoàng. Vấn đề này vốn không nằm trong chương tŕnh ban đầu, nhưng lại được Công Đồng đưa ra bàn và định tín trước. Nhiều vấn đề quan trọng khác chưa được bàn tới th́ Công Đồng bị đ́nh hoăn. Chính v́ quyền tối thượng và ơn bất khả ngộ được định tín trong Công Đồng này, nên người ta – cụ thể và đặc biệt là luận đề của Bismark – cho rằng từ nay sẽ chẳng c̣n cần tới Công Đồng chung nữa: giáo hoàng có quyền quyết định tất cả, kể cả vấn đề đức tin, nên giáo huấn của giáo hoàng đă là mực thước của đức tin rồi!
Nhưng không ngờ, năm 1959, Đức Gioan XXIII, dù tuổi già sức yếu, lại có tư tưởng muốn triệu tập Công Đồng chung Vatican II, và cuối năm 1961, ngài chính thức quyết định sẽ triệu tập Công Đồng Vatican II vào ngày 2-2-1962.
Bối cảnh Giáo Hội thời Công Đồng Vatican II
1. Thế giới đă và đang thay đổi ngày càng nhanh chóng
Vào thời Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, người ta không thấy một khó khăn nào nổi cộm trong Giáo Hội đến nỗi phải triệu tập Công Đồng cả: chẳng có lạc giáo, chẳng có ly khai, chẳng bị bách hại, Giáo Hội rất b́nh yên và có uy quyền lớn mạnh hơn bao giờ hết. Nhưng dưới con mắt hướng về tương lai và đầy tính tiên tri của vị giáo hoàng rất lớn tuổi này, Giáo Hội hơn bao giờ hết cần phải chuẩn bị đối diện với những vấn đề cực kỳ khó khăn của thời đại đang hoặc sắp xảy đến.
Ngài nhận thấy từ khi bước sang thế kỷ 20, nhân loại thay đổi hết sức nhanh chóng so với thế kỷ 19, vốn đă được coi là có quá nhiều thay đổi vĩ đại so với các thế kỷ trước. Khoa học và kỹ thuật đă có những bước tiến khủng khiếp, đă trở thành một cuộc cách mạng vĩ đại có khả năng thay đổi năo trạng và tâm thức con người thời đại. Nhiều thứ lư thuyết đă thượng tôn khoa học kỹ thuật, cho rằng khoa học tiến bộ sẽ có khả năng thay thế tôn giáo. Những lư thuyết này thúc đẩy con người thời đại đặt hết niềm tin và hy vọng vào thế giới vật chất, vào khả năng giải quyết của khoa học kỹ thuật. Niềm tin tôn giáo v́ thế bị lung lay, những hứa hẹn của tôn giáo bị tan vỡ. Con người thời đại chịu ảnh hưởng của tinh thần duy lư của René Descartes, tinh thần khoa học thực nghiệm của Claude Bernard: chỉ chấp nhận là đúng những ǵ đă được chứng minh hay kiểm chứng bằng thực nghiệm.
Quá tin vào khoa học, nhưng con người lại bị chính khoa học phản bội. Chưa bao giờ khoa học lại làm cho con người đau khổ như hiện nay, có khả năng tiêu diệt nhau nhanh chóng, hàng loạt và tối tân như hiện nay. Chiến tranh càng ngày càng dễ xảy ra không chỉ giữa nước này với nước kia, mà giữa khối nước này với khối nước kia. Nguy cơ thế giới bị tiêu diệt bởi bom nguyên tử, nguy cơ thế chiến bùng nổ luôn luôn đe dọa con người.
Trước một thế giới đang và sẽ thay đổi một cách khá toàn diện như thế, Giáo Hội – với tinh thần nhập thể của Đức Ki-tô – không thể không thay đổi. V́ nếu không thay đổi, Giáo Hội không thể thích ứng với thế giới mới. Mà không chịu thích ứng, Giáo Hội sẽ trở nên xa lạ với thế giới và v́ thế sẽ không đem lại ích lợi ǵ cho thế giới. Vậy, chắc chắn Giáo Hội cần phải thay đổi. Nhưng thay đổi thế nào để Giáo Hội vừa vẫn là Giáo Hội của Đức Ki-tô, vừa thích ứng được với thế giới mới? Đó là điều mà Đức Gioan XXIII kỳ vọng vào Công Đồng Vatican II.
2. Nhiều nỗ lực hướng đến hiệp nhất Ki-tô giáo
Khởi đầu, Giáo Hội chỉ là một Giáo Hội duy nhất do Đức Ki-tô thiết lập. Thế nhưng qua thời gian, Giáo Hội đă bị rạn nứt thành nhiều mảnh, với biết bao nhiêu giáo phái: tuy cùng tin vào Đức Giê-su Ki-tô, nhưng tuyên xưng niềm tin cách khác nhau. Tuy đại đồng tiểu dị, nhưng nhiều giáo phái coi nhau như ngoại đạo, như khác tôn giáo nhau, như chẳng phải là anh em con cùng một Cha. Điều này thật tủi hổ cho Đức Giê-su, người Thầy chung của tất cả, Đấng đă nói: «Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có ḷng yêu thương nhau» (Ga 13,35). Thật vậy, không ǵ làm đau ḷng Đức Giê-su cho bằng sự kiện những kẻ tin theo Ngài, đều tự nhận là môn đệ Ngài, lại coi nhau như xa lạ, chỉ v́ khác nhau trong một số tiểu tiết. Đó là một gương xấu rất lớn cho thế giới, và v́ thế, Giáo Hội đă đánh mất biết bao cơ hội quí giá cho việc truyền giáo.
Các nước trên thế giới đang cố xích lại gần nhau hơn, t́m cách giao lưu, hợp tác với nhau về nhiều mặt, chẳng lẽ các giáo phái Ki-tô giáo – vốn chỉ chiếm 1/3 dân số thế giới – lại cứ tiếp tục chia rẽ nhau? V́ thế, các giáo phái Ki-tô giáo, dường như cũng ư thức được sự chia rẽ sai trái của ḿnh suốt bao thế kỷ nay, cảm thấy cần phải xích lại gần nhau hơn. Từ đó, trong mọi giáo phái, luôn luôn phát sinh những con người cổ vơ và hoạt động cho sự hiệp nhất các giáo phái Ki-tô giáo. V́ thế, hơn bao giờ hết, qua Công Đồng Vatican II, Giáo Hội quan tâm tới sự hiệp nhất Ki-tô giáo hơn bao giờ hết
Diễn tiến của Công Đồng chung Vatican II
Công Đồng Vatican II được thực hiện qua nhiều giai đoạn:
1. Chuẩn bị xa (1959-1960)
Công Đồng Vatican II đă bắt đầu manh nha trong tư tưởng của Đức Gio-an XXIII từ lúc nào và do đâu th́ ít ai biết. Nhưng việc tổ chức Công Đồng đă được ngài chính thức đề nghị và chuẩn bị xa từ tháng 5-1959. Ngài đă đề cử Đức Hồng Y Quốc vụ khanh Tardini làm chủ tịch Ủy Ban phụ trách việc chuẩn bị này. Ủy ban này có nhiệm vụ thăm ḍ ư kiến của các nghị phụ sẽ được mời và của các đại học công giáo. Ư kiến từ khắp nơi gửi về đều hoan hỉ tán thành việc tổ chức Công Đồng. Một sự kiện chưa từng có là khi hỏi ư kiến, Ủy ban không hề giới hạn các đề mục, nên các ư kiến trở nên hết sức phong phú, đề cập đến rất nhiều vấn đề cần thiết phải cải tổ trong Giáo Hội.
Giữa năm 1960, ngài c̣n thành lập 3 Văn pḥng và 12 Ủy ban, tương ứng với các Thánh bộ của giáo triều. Thành phần các Ủy ban được tuyển chọn từ các giáo hội địa phương trên toàn thế giới. Ngày 7-12-1959, ngài chính thức đặt tên cho Công Đồng là Vatican II.
2. Chuẩn bị gần (1960-1962)
Các Ủy ban đă thành lập phải làm việc ngày đêm để tổng hợp các ư kiến đă nhận được hầu cung cấp các lược đồ cho hội nghị. Để hoàn thành một lược đồ, các thành viên của Ủy ban phải họp nhau lại dưới quyền chủ tọa của một hồng y, với sự cộng tác của nhiều chuyên viên tài giỏi, để phân tích, tổng hợp, phân loại, đúc kết mọi đề tài sẽ được các nghị phụ đem ra bàn thảo và biểu quyết sau này. Để tiến hành công việc này, mỗi đề tài lại được phân chia thành nhiều tiểu đề, mỗi tiểu đề lại do một tiểu ban hay một nhóm chuyên viên đảm trách. Mỗi tiểu ban có nhiệm vụ tổng kết tiểu đề của ḿnh thành một bản sơ thảo sau nhiều lần bàn căi và tu bổ. Các bản sơ thảo đều được in và gửi tới mọi thành phần của Ủy ban và các cố vấn để họ cho nhận xét hay ư kiến. Sau khi nhận được các nhận xét hay ư kiến này, các tiểu ban phải xem xét, hội thảo và soạn thảo lại.
Cuối cùng lược đồ sẽ được Ủy ban nhóm họp lại, bàn căi tự do và bỏ phiếu quyết định, rồi đệ tŕnh lên Ủy ban Trung ương do chính Đức Giáo Hoàng làm chủ tịch. Ủy ban Trung ương được coi như một tiểu Công Đồng, gồm nhiều hồng y, thượng phụ, giám mục… của 37 quốc gia. Ủy ban này sẽ cẩn thận duyệt xét các lược đồ rồi bỏ phiếu chấp thuận. Lược đồ nào chỉ cần bị một phần ba các thành viên không đồng ư là bị loại bỏ, và Ủy ban Trung ương phải soạn thảo một lược đồ khác thay thế. Cuối cùng, lược đồ mới được đệ tŕnh lên Đức Giáo Hoàng, ngài sẽ quyết định cho đem tŕnh bày với các Nghị phụ ở Công Đồng. Tất cả có 70 dự án được chấp thuận.
3. Các khoá họp của Công Đồng (1962-1965)
Có 4 khoá họp:
a) Khoá họp đầu tiên (từ 11-10 đến 8-12-1962):
Có 2.449 nghị phụ tới tham dự khóa họp này (số được mời là 2.904 vị). Khi khai mạc, Đức Giáo Hoàng đưa ra những tôn chỉ của Công Đồng là:
– cởi mở với thế giới,
– thông cảm chứ không lên án tuyệt thông,
– xót thương hơn là khắt khe,
– nhận chân rằng thế giới cũng rất nhạy cảm, không chấp nhận sai lầm,
– loan truyền Tin Mừng với tinh thần lạc quan hơn là bi quan.
Trong khoá họp này, các nghị phụ tuyển chọn thành phần cho các Ủy Ban Công Đồng, mỗi Ủy ban gồm khoảng 25 thành viên. Có tất cả 273 nghị phụ được tuyển chọn vào 10 Ủy ban.
Sau khi gửi «một sứ điệp cho thế giới», các nghị phụ bắt đầu làm việc theo 7 lược đồ đă được đề nghị cho khóa họp này. Nhưng mới chỉ bàn thảo về 5 lược đồ mà vẫn chưa xong được lược đồ nào. Theo dự tính th́ sẽ có 73 lược đồ được bàn thảo tại Công Đồng. Nhưng tới cuối khoá họp này, các nghị phụ thấy các vấn đề quá bao la, không thể bàn căi hết được, v́ các vấn đề không đơn giản, các đề tài được đưa ra bàn thảo gây nên những cuộc tranh luận hết sức sôi động, căng thẳng, kịch liệt giữa các nghị phụ. Mọi lược đồ nếu được đưa ra bàn căi th́ sẽ tốn rất nhiều thời giờ. V́ thế, Đức Giáo Hoàng quyết định rút lại c̣n 20 lược đồ. Khoá họp sau sẽ được tổ chức vào cuối tháng 9-1963, nên các Ủy ban Công Đồng c̣n 9 tháng để soạn thảo và đúc kết lại 20 lược đồ này cho khoá họp tới.
Nhưng rất tiếc trong thời gian này, Đức Gio-an XXIII đă về với Chúa, và Đức Phao-lô VI lên kế vị. Vị tân giáo hoàng này sẽ tiếp tục Công Đồng Vatican II.
b) Khoá họp thứ hai (từ 29-9 đến 4-12-1963):
Khoá họp này do Đức Tân Giáo Hoàng Phao-lô VI chủ tọa, ngài có tinh thần vượt trên mọi thành kiến, và tư tưởng của ngài c̣n có vẻ tiến bộ hơn của Đức Gio-an XXIII. Ngài cải tổ lại các qui tắc Công Đồng và dám tuyên bố chỉnh đốn lại giáo triều Rô-ma. Trong diễn văn khai mạc, ngài gọi các giáo phái Ki-tô giáo khác là «những anh em bất ḥa» (chứ không phải «ly khai» nữa). Ngài c̣n lên tiếng xin Thiên Chúa và những «anh em bất ḥa» đó tha thứ cho những lỗi lầm của Giáo Hội Rô-ma trong việc chia rẽ Ki-tô giáo. Quả là một điều táo bạo chưa từng có trong lịch sử Giáo Hội Công giáo.
Cuối khoá họp này, mới chỉ có hai văn kiện được công bố sau khi được bỏ phiếu và được đa số chấp thuận:
1) Sắc lệnh về Các Phương Tiện Truyền Thông Xă Hội
2) Hiến chế Phụng Vụ.
Khác với các Công Đồng trước, Công Đồng Vatican II tỏ ra tôn trọng cộng đoàn tính của các giám mục hơn. Các Công Đồng trước, khi chính thức công bố, Đức Giáo Hoàng viết: «Ta ra sắc lệnh, thiết lập và phê chuẩn… với sự chấp thuận của Thánh Công Đồng». Như thế, chính Đức Giáo Hoàng công bố, các giám mục chỉ có việc chấp nhận, xem ra quá thụ động. C̣n trong Công Đồng Vatican II, Đức Phao-lô VI viết: «Tất cả và từng điều được ban bố trong Hiến Chế này đều được các Nghị Phụ Thánh Công Đồng chấp thuận. Và dùng quyền tông đồ Chúa Ki-tô trao ban, hiệp cùng các Nghị Phụ khả kính… Chúng tôi phê chuẩn…». Như thế, không phải chỉ Đức Giáo Hoàng, mà toàn thể các giám mục cùng với Ngài phê chuẩn. Đó là một bước tiến làm nổi bật tính cộng đoàn của các Giám mục.
c) Khoá họp thứ ba (từ 14-9 đến 21-11-1964):
Trong bài diễn văn khai mạc khóa này, Đức Giáo Hoàng đề cao tính cộng đoàn của các giám mục. Qui luật của Công Đồng được sửa đổi: rút kinh nghiệm những khoá họp trước, để tránh những ư kiến lập lại, các nghị phụ nào muốn phát biểu ư kiến, phải đăng kư trước 5 ngày, nhờ đó công việc tiến hành nhanh hơn.
Kết thúc khoá họp này, có ba văn kiện được công bố:
1) Hiến chế về Giáo Hội,
2) Sắc lệnh về Hiệp Nhất,
3) Sắc lệnh về Các Giáo Hội Công giáo Đông Phương.
Đồng thời Đức Giáo Hoàng công bố Đức Ma-ri-a là Mẹ Giáo Hội (điều này khiến nhiều nghị phụ bất b́nh v́ không được tham khảo ư kiến, vả lại nó gây đụng chạm với anh em Tin Lành).
d) Khoá họp thứ tư (từ 14-9 đến 8-12-1965):
Trong diễn văn khai mạc, Đức Giáo Hoàng quyết định thành lập Thượng Hội Đồng Giám Mục để thể hiện tính cộng đoàn của các ngài.
Cuối khóa này, một số các văn kiện đă được bỏ phiếu chấp thuận và được công bố:
1) Sắc lệnh về Giám mục,
2) Sắc lệnh về Đời Sống Ḍng Tu,
3) Sắc lệnh về Đào Tạo Linh Mục,
4) Tuyên ngôn về Giáo Dục Ki-tô giáo,
5) Tuyên ngôn về Tự Do Tôn Giáo,
6) Hiến chế về Mạc Khải,
7) Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo Dân,
8) Sắc lệnh về Truyền Giáo,
9) Sắc lệnh về Chức Vụ và Đời Sống Các Linh Mục,
10) Hiến chế Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay.
11) Tuyên ngôn Liên Lạc của Giáo Hội với Các Tôn Giáo Ngoài Ki-Tô Giáo.
Ngày sau hết của Công Đồng được đánh dấu bằng một sự kiện lịch sử: vào ngày 7-12-1965, trong tinh thần tiến tới hiệp nhất, Đức Phao-lô VI tại Rô-ma và Đức Thượng Phụ Athenagoras tại Istanbul, cùng một lúc xóa bỏ án tuyệt thông lẫn nhau. Án tuyệt thông này do hai vị lănh đạo hai giáo phái lớn của Ki-tô giáo đă ra cho nhau năm 1054, gây nên sự ly khai giữa Giáo Hội Công giáo Rô-ma và Giáo Hội Chính Thống giáo Đông Phương. Đây là thành quả tốt đẹp và giá trị nhất của Công Đồng Vatican II.
Những đặc điểm tiêu biểu của Công Đồng
1. Tinh thần Giáo Hội
Từ trước đến nay, chưa một Công Đồng Chung nào đề cập một cách qui mô đến nhiều vấn đề phức tạp, phong phú trong Giáo Hội như Công Đồng Vatican II. Nhưng tư tưởng trụ cột của Công Đồng chính là quan niệm về Giáo Hội. Có thể nói: Công Đồng t́m cách diễn tả chính xác về Giáo Hội, vừa phù hợp với bản chất không thay đổi của Giáo Hội (dựa trên Thánh Kinh, Thánh Truyền), vừa phù hợp với ngôn ngữ và quan niệm của thời đại. Chưa hề có một Công Đồng nào bận tâm về vấn đề này. Có một quan niệm chính xác và đúng đắn về Giáo Hội, ta mới có thể dựa trên đó để xác định những vấn đề quan trọng khác như quan hệ giữa Giáo Hội với thế giới, vấn đề hiệp nhất các giáo phái Ki-tô giáo, v.v… Có thể nói Giáo Hội là đề tài trọng tâm của Công Đồng Vatican II, tất cả mọi văn kiện của Công Đồng đều xoay quanh và đặt nền tảng trên vấn đề Giáo Hội. Do đó, Hiến Chế về Giáo Hội là văn kiện căn bản nhất của Công Đồng Vatican II.
Giáo Hội bao gồm nơi ḿnh rất nhiều quốc gia, chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ, và các thành phần trong Giáo Hội (các chức sắc, tu sĩ, giáo dân, các tu hội, đoàn thể, v.v…) V́ thế, muốn mang tính Giáo Hội một cách đầy đủ, Công Đồng phải có sự hiện diện đầy đủ của những người đại diện cho các quốc gia, chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ, và mọi thành phần của Giáo Hội.
V́ thế, về những người tham dự, chưa có một Công Đồng Chung nào có một con số nghị phụ được mời mang tính đa dạng và đông tới trên 3.000 vị, và tỷ lệ tham dự khoảng trên 80%. Các nghị phụ là các giám mục đến từ tất cả các quốc gia có Ki-tô giáo trên thế giới (trong thời gian họp Công Đồng, có 253 vị qua đời, nhưng được thay thế bởi 296 vị tân giám mục được tấn phong).
Ngoài ra c̣n có:
+ sự hiện diện và hợp tác của 460 nhà chuyên môn (đa số là các linh mục triều và ḍng, phần c̣n lại là các tu sĩ, thành viên các tu hội, và giáo dân).
+ 42 dự thính viên là giáo dân, 10 dự tính viên là nữ tu, và 45 dự thính viên là linh mục cùng đi với giám mục của họ (được mời sau các dự thính viên trên).
Có thể nói mọi giáo hội địa phương trên thế giới đều có người đại diện trong Công Đồng.
2. Tinh thần hiệp nhất
Một trong những mục đích lớn của Công Đồng là mở lối và tạo điều kiện cho sự hiệp nhất giữa những người tin theo Đức Ki-tô. Công Đồng đă thực hiện mục đích này:
– qua các văn kiện giáo lư như: Sắc lệnh về Hiệp Nhất, Tuyên ngôn về Tự Do Tôn Giáo, và Tuyên ngôn Liên Lạc của Giáo Hội với Các Tôn Giáo Ngoài Ki-Tô Giáo.
– qua các cuộc gặp gỡ thân thiện trong bầu khí của Công Đồng giữa đại diện nhiều giáo phái Ki-tô giáo.
– qua việc mời khoảng 100 quan sát viên ngoài Công giáo đến tham dự, đại diện cho 29 giáo hội và cộng đồng Ki-tô giáo khác nhau.
– qua tinh thần tự do và đối thoại: các nghị phụ tranh luận với nhau một cách hào hứng, thậm chí kịch liệt trong một bầu khí tự do, các ngài có thể bác bỏ ư kiến hay đề nghị của chính Đức Giáo Hoàng, v.v…
– qua chủ trương bao dung, chấp nhận sự đa dạng, khác biệt, chủ trương không lên án tuyệt thông ai…
V́ thế, Công Đồng Vatican II đánh dấu một bước vĩ đại tiến về sự hiệp nhất trong tương lai của các giáo phái Ki-tô giáo. Sự việc Đức Phao-lô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras xóa bỏ án tuyệt thông lẫn nhau khi Công Đồng kết thúc là một dấu chỉ lạc quan cho sự hiệp nhất ấy.
Kết luận
Kể từ thế kỷ 19, trào lưu dân chủ trên thế giới càng ngày càng phát triển mạnh, Giáo Hội, qua Công Đồng Vatican II, cũng có nhiều chiều hướng dân chủ hơn. Mặc dù Công Đồng Vatican I đă dành cho Đức Giáo Hoàng một địa vị độc tôn trong Giáo Hội về việc «bất khả ngộ» trong lănh vực đức tin và luân lư, nhưng trong Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng đă không sử dụng quyền này để quyết định các vấn đề. Hầu như mọi quyết định, mọi chủ trương quan trọng về đức tin, luân lư, chiều hướng tương lai… của Công Đồng Vatican II đều là quyết định chung của toàn thể các nghị phụ cùng với Đức Giáo Hoàng. Các quyết định này được các nghị phụ bàn căi, được các chuyên viên, các nhà chuyên môn thuộc đủ mọi thành phần trong Giáo Hội góp ư. V́ thế, Công Đồng Vatican II phản ảnh được ư nguyện của toàn Giáo Hội, và như thế, Công Đồng đánh dấu một bước tiến lớn cho tính cộng đoàn của các giám mục, và tinh thần dân chủ trong Giáo Hội.
Rất mong chiều hướng dân chủ này sẽ càng ngày càng được quan tâm và phát triển đúng mức trong Giáo Hội. Đó có thể là cách thức mới mà thời nay Thánh Thần dùng để mạc khải và tác động trên Giáo Hội, v́ đó cũng là chiều hướng chung của cả thế giới. Hiện nay, sau biết bao thế kỷ sống trong chế độ quân chủ, phong kiến, độc tài, v.v… dần dần thế giới khám phá ra chiều hướng dân chủ là chiều hướng đúng đắn và tiến bộ nhất để phát triển xă hội, v́ nó phù hợp với định nghĩa về xă hội và với quyền lợi chung của xă hội. Thật vậy, trong hầu hết các dân tộc trên thế giới, dân tộc nào cũng đều có những câu tục ngữ với ư nghĩa tương tự như câu của người Việt Nam: «Ư dân, ư Trời». Qua Công Đồng Vatican II, ta thấy chân lư và thánh ư của Thiên Chúa được rút ra và được tổng kết từ các ư kiến đă được các nghị phụ phát biểu trong Công Đồng. Các nghị phụ đại diện cho các thành phần, các tầng lớp, các dân tộc, các quốc gia, các nền văn hóa, các giáo hội địa phương khác nhau trong Giáo Hội. Một cách nào đó, các ngài đại diện cho toàn thế giới.
Thiết tưởng cách t́m ra chân lư và thánh ư Thiên Chúa của Công Đồng Vatican II – đầy tính dân chủ – là một mẫu mực cho các giáo hội địa phương, các cộng đoàn, các tập thể lớn nhỏ trong Giáo Hội noi theo. Một cách cụ thể, để đi đến một quyết định sáng suốt trong các giáo phận, giáo xứ, các cộng đoàn, tập thể, thiết tưởng người lănh đạo cần biết lắng nghe mọi thành phần dân Chúa trong đó, và t́m ra chân lư và thánh ư Ngài. Việc đơn phương quyết định một ḿnh của người lănh đạo mà không cần bàn hỏi với ai, tự cho ḿnh có đủ sáng suốt hơn tất cả, là một thái độ không c̣n thích hợp với tâm thức của con người thời đại, và chắc chắn cũng là ngược với đường hướng mới của Thánh Thần đang thực hiện trong Giáo Hội hiện nay.
 

mục lục

BA LAN HÔM QUA & VIỆT NAM HÔM NAY

VỤ THẢM SÁT MỘT LINH MỤC BA LAN
(Trần Phong Vũ chuyển ngữ và tóm lược,


Nguyệt San Đường Sống số phát hành 30-4-1986. Nguyên tác bản tường tŕnh của John Fox "Murder of a Polish Priest", Reader’s Digest tháng 12-1985)
"Cha Jerzy, Cha có nghe chăng tiếng chuông Tự Do đang ngân vang?"
Tiếng Gọi Định Mệnh
Từ hải cảng Baltic tới những mỏ than Silesian, tập thể công nhân Ba Lan nhất tề đứng dậy. Bất chấp mọi đe dọa của điện Cẩm Linh, Công Đoàn Đoàn Kết đă ra đời. Vào tuần lễ chót tháng 8/1980, sau khi đạt được thắng lợi về quyền tự do nghiệp đoàn cũng như những cải cách căn bản khác, các công nhân Ba Lan mong muốn thánh lễ được cử hành ngay trong xưởng thợ... Và Cha Jerzy Popieluszko đă đáp ứng lời mời gọi của họ.
Khi vị Linh Mục trẻ bước qua cổng công xưởng, Cha có cảm tưởng như một nhân vật quan trọng nào đó đang đi bên cạnh, v́ trước mặt Cha là một biển người với những khuôn mặt vừa khóc vừa cười và những tràng pháo tay vang dội. Khi nh́n thấy bàn thờ và một cây Thánh Giá lớn được dựng lên ngay trung tâm cơ xưởng, Cha Jerzy chợt hiểu những giọt lệ và những tiếng vỗ tay hoan hô chào đón của đám công nhân là để dành cho bản thân Cha, vị Linh Mục đầu tiên đáp lời mời gọi của họ. Và tiếng hát từ đám đông cất lên cảm động hơn tất cả bao giờ.
Kể từ giây phút ấy, Cha Popieluszko trở thành người bạn nghĩa thiết của công nhân Ba Lan. Đấy là một chọn lựa định mệnh, biến Cha thành vị Linh Mục của quần chúng Ba Lan, một người con cưng của Đức Thánh Cha và là thủ lănh tinh thần của phong trào Công Nhân Đoàn Kết - đồng thời cũng là một khuôn mặt khiến cả Varsovie và Mạc Tư Khoa úy kỵ và t́m hết cách để hủy diệt.
Làm Việc Không Ngừng Nghỉ
Khổ đau không phải là điều mới mẻ đối với Cha Jerzy. Ra đời năm 1947 trong một gia đ́nh nông dân nghèo túng, ngay từ thời thơ ấu, cậu bé Jerzy đă nếm mùi thiếu thốn bệnh tật. Nhưng không bao giờ cận tỏ dấu phàn nàn. Jerzy chịu ảnh hưởng sâu xa tấm gương của Cha Maximilian Kolbe, một vị Linh Mục đă hy sinh mạng sống của ḿnh để cứu một tù nhân cùng bị giam giữ với Ngài ở Auschwitz. Theo chân Cha Kolbe, cậu bé Jerzy đă chọn con đường tu tŕ sau khi tốt nghiệp trung học, bất chấp những đe dọa về phía chính quyền Cộng Sản. Sau một năm ở chủng viện, Jerzy bị động viên và chính thời gian này, cậu đă trở thành nạn nhân của chế độ.
V́ kiên cường không chịu bỏ thói quen lần chuỗi và hướng dẫn bạn đồng ngũ cầu nguyện, Jerzy đă bị hành hạ tàn nhẫn, bị biệt giam một tháng khiến sức khoẻ bị kiệt quệ đến nỗi phải vào bệnh viện ngót một năm và trải qua một cuộc giải phẫu nhưng vẫn không cải thiện được t́nh trạng suy yếu về tim và thận, kết quả của hai năm bị đọa đầy trong quân ngũ. Khi vị Linh Hướng tỏ dấu lo ngại về tương lai mục vụ của Jerzy và muốn Jerzy phải nghỉ ngơi th́ được nghe trả lời: "Người ta sẽ không bao giờ thấy đau khổ khi người ta chấp nhận đau khổ v́ Chúa Kitô." Năm 1972, Cha Jerzy hăng hái lao ḿnh vào cuộc đời Linh Mục và không bao lâu đă giành được cảm t́nh của mọi giới. Cha đă trở thành người bạn thiết nghĩa của các sinh viên Y khoa tại đại học Varsovie. Một sinh viên đă nói về Cha Jerzy như sau: "Cha lo lắng cho tôi hơn cả chính tôi lo lắng cho tôi."
Ở Cha Jerzy c̣n là sự can đảm khác thường. Trong dịp Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viếng thăm Ba Lan lần đầu, Cha Jerzy đă liều lĩnh lấy lại một bức thư trong tay bọn Công An Nhà Nước... Bức thư này vốn của một cô bé viết ra với ư định dâng lên Đức Thánh Cha nhưng đă bị Công An tước đoạt. Nhờ Cha Jerzy, bức thư của cô bé đă tới được tay vị thủ lănh tối cao của Giáo Hội Công Giáo.
V́ làm việc nhiều Cha Jerzy bị ngă bệnh trở lại và một lần đă bị ngất xỉu trong khi cử hành thánh lễ. Tháng 6/1980, Cha được đưa tới một nơi dành cho các Linh Mục hưu dưỡng. Nhưng định mệnh đưa đẩy, Cha Jerzy đă không được yên nghỉ trước tiếng kêu mời của tập thể công nhân nhà máy thép Varsovie.
Những Khuôn Mặt Đẹp
Một nguồn sinh lực mới đă tràn vào cơ thể Cha Jerzy khi Cha lao ḿnh vào với giới công nhân. Cha hăng say thuyết giảng về "danh dự của người lao động." Cha chỉ cho các công nhân thấy rằng sự bê tha rượu chè cũng là một h́nh thức nô lệ. Nhờ thế, tệ trạng say sưa giảm bớt hẳn.
Trong suốt 15 tháng tự do nửa vời của Công Đoàn Đoàn Kết, Công An ch́m Nhà Nước luôn chiếu cố Cha Jerzy. Những lời cảnh cáo, những đe dọa mạng sống được liên tiếp đưa ra nếu Cha không cắt đứt mọi liên hệ với công nhân.
Mùa thu năm 1981, chế độ vẫn từ khước không chịu thi hành những thỏa hiệp với công nhân. Hiển nhiên Công Đoàn Đoàn Kết đă trở thành một thách đố đối với Varsovie và Mạc Tư Khoa. Tháng 10-1981, Cha Jerzy qua Mỹ dự đám táng một bà cô. Tại đây nhiều người khuyên Cha xin tỵ nạn chính trị, nhưng Cha từ chối: "Tôi không thể từ bỏ những người bạn công nhân của tôi lúc họ đang bị lâm nguy. Họ cần tôi và tôi cũng cần họ." Và Cha Jerzy đă trở lại Ba Lan ngay sau khi tang lễ hoàn tất.
Khi chế độ Cộng Sản ban bố "t́nh trạng chiến tranh" vào ngày 12 tháng 12 năm 1981, các lănh tụ Công Đoàn phải rút vào bóng tối v́ những đợt khủng bố man rợ của lực lượng Công An. Và các công nhân nhà máy Varsovie thoát khỏi màng lưới Công An đă vô cùng nhạc nhiên khi phát hiện sự có mặt từng người tại căn pḥng của Cha Jerzy. Một người lên tiếng: "Quả là một sự phản xạ. Khi gặp phiền phức là t́m tới Jerzy."
Họ tới với Cha v́ Cha không hề sợ hăi. Trên vách căn Apartment của Cha treo sẵn một tấm bản đồ Ba Lan vĩ đại, trên đó đánh dấu tất cả những trại giam giữ các cán bộ Công Đoàn. Khi có người hỏi là thực hiện một tấm bản đồ như thế Cha không sợ sao, th́ Cha Jerzy trả lời: "Chỉ những kẻ cầm quyền đă dựng nên những trại tù mới là kẻ phải sợ hăi."
Đối với Cha Jerzy, t́nh trạng cùng quẫn của người dân Ba Lan không phải chỉ là vấn đề chính trị mà c̣n là một phần của thiên chức Linh Mục.
Sau khi lệnh thiết quân luật được ban hành, Cha Jerzy treo bức h́nh chụp mới nhất của song thân lên. Bà Cố tỏ dấu không hài ḷng, nói với Cha Jerzy: "Con thấy đấy, bố mẹ lúc này sao trông thiểu năo và đau khổ biết mấy!" Và Cha Jerzy trả lời: "Thưa mẹ, con thấy đó chính là những khuôn mặt đẹp tuyệt vời!"
Cha bắt đầu len lỏi vào những hang cùng ngơ hẻm trong thành phố để an ủi, tiếp cứu những người thiếu thốn cùng quẫn, nhất là vợ con các cán bộ Công Đoàn tại đào. Chính lănh tụ Công Đoàn Lech Walesa đă nói về Cha Jerzy như sau: "Quả thực Cha đă quên hẳn thân ḿnh." Vị Linh Mục trẻ đă phân phát đi hàng tấn quần áo trong khi chính trang phục của Cha th́ lôi thôi, rách nát. Một nhà báo tên tuổi vốn là cựu đảng viên Cộng Sản đă mệnh danh Cha Jerzy là "một người bạn thánh của chúng tôi tại giáo đường St. Stanislaw."
Vượt Thắng Sự Dữ
Cha Jerzy biết rằng tai mắt Nhà Nước hiện diện trong căn pḥng của Cha qua những trang cụ điện tử. Công An cũng bắt đầu hăm dọa cả cha mẹ và bạn bè Cha. Nhưng Cha Jerzy đă đi xa hơn bằng cách bày tỏ niềm tin cả với những nhân viên an ninh Nhà Nước trong cố gắng đánh động lương tâm từng người. Bất chấp lệnh giới nghiêm trong đêm Giáng Sinh đầu tiên, Cha len lỏi trong bóng đêm, ngừng lại trước mỗi đơn vị Công An đặc biệt được bố pḥng khắp thủ đô Varsovie. Dĩ nhiên, trong điều kiện ấy, Cha có thể bị bắn tại chỗ. Trong khi Cha Jerzy tiến tới các ổ súng với bánh Giáng Sinh, một số nhân viên an ninh quay đi, một số đă nhận bánh và lời chúc b́nh an của Cha. Có người quá cảm động đă rơi lệ.
Lệnh thiết quân luật đă khóa miệng cả triệu người dân Ba Lan. Riêng Linh Mục Jerzy Popieluszki vẫn tiếp tục lên tiếng. Cha bắt đầu cử hành "Thánh lễ cầu cho quê hương" hàng tháng dành cho tất cả các nạn nhân của chế độ. Một số công nhân hầm mỏ từ miền Nam Ba Lan quá cảm động khi hay tin về Thánh Lễ đặc biệt này đă đánh liều t́m đường về tham dự. Nhưng khi họ nh́n vóc dáng nhỏ thó của Cha Jerzy trên bàn thờ th́ họ cảm thấy như bị đánh lừa. Vị Linh mục này không có vẻ ǵ là người anh hùng mà họ đă vẽ ra trong trí tưởng tượng.
Nhưng khi Cha Jerzy bắt đầu thuyết giảng th́ giọng nói dịu dàng nhỏ nhẹ của Cha trở nên có một sức mạnh tuyệt vời. Cha nói không giấu giếm những điều mà họ thực tâm cảm thấy mà không thể nói ra. Họ muốn "vùng dậy một lần nữa sau những đớn đau, ê chề và tủi nhục" như lời Cha Jerzy nói với họ "bởi v́ các bạn chỉ quỳ gối trước mặt một ḿnh Thiên Chúa mà thôi." Từ lâu chế độ đă cấm chỉ không ai được nói tới Công Đoàn Đoàn Kết, nhưng Cha Jerzy tuyên bố: "Liên đới có nghĩa là duy tŕ sự tự do nội tâm cho dù phải sống trong t́nh trạng nô lệ: Hăy vượt thắng sợ hăi." Những công nhân nhà máy thép Varsovie đă lớn tiếng tuyên xưng trong một thánh lễ tại giáo đường Stanislaw rằng: "Tiếng nói của Cha Jerzy là tiếng nói trung thực của chúng tôi." Nhà văn Adam Michnik, một cây viết hàng đầu trong văn giới Ba Lan đă phát biểu như sau: "Cha Jerzy đă mang lại những giây phút nhiệt thành đặc biệt về niềm hy vọng cho người dân thủ đô Varsovie."
"Thánh lễ cầu cho quê hương" trở thành một biến cố có tầm vóc quốc gia. Người dân Ba Lan từ khắp nơi đổ về tham dự, trong đó ngoài thành phần công nhân c̣n có cả các giới văn nhân, nghệ sĩ, trí thức. Mặc dầu màng lưới Công An trùng điệp trong ngoài thánh đường Stanislaw, mọi người đều chia sẻ với nhau trong niềm giao cảm mới mẻ về sự thinh lặng và hiệp nhất. Và Cha Jerzy bắt đầu giảng về đề tài "đạo đức phải thắng gian tà". Cả trăm ngàn lá thư gửi về bày tỏ ḷng biết ơn vị Linh Mục trẻ đă giúp họ hồi phục niềm tin. Một công nhân viết: "Tôi là một con người hoàn toàn tự do trong suốt hai tiếng đồng hồ nghe Cha Jerzy giảng." Một công nhân khác bộc lộ: "Tôi cảm thấy tâm hồn b́nh an khi ở gần Cha."
Những bài thuyết giảng của Cha Jerzy được ấn hành, được thu băng, được chuyền tay sang qua sang lại và được phổ biến rộng răi khắp lănh thổ Ba Lan trước những biện pháp ngăn chặn vô hiệu của Công An Nhà Nước. Ảnh hưởng của Cha Jerzy lớn đến nỗi một số công an viên Varsovie đă từ chối không tham dự hành vi chống lại Cha. Nhân sự từ khắp nơi trong lănh thổ Ba Lan đă được vận dụng. Các công nhân nói với Cha Jerzy: "Jurek! (cách xưng hô thân mật của bạn bè và công nhân lúc bấy giờ khi nói với Cha Jerzy) Cha không c̣n là của Cha nữa. Cha đă thực sự là người của quần chúng rồi."
Nhưng "Thánh lễ cầu nguyện cho quê hương" càng thành công và lôi cuốn được nhiều người tham dự bao nhiêu th́ biện pháp ngăn cản, những thư từ hăm dọa đến với vị Linh Mục can trường của Ba Lan ngày càng tăng thêm thập bội. Nhưng Cha Jerzy vẫn không lùi bước v́ luôn xác tín rằng: "Là Linh Mục th́ phải theo đuổi con đường công chính cho đến cùng." và cũng v́ ngay từ thời niên thiếu Cha đă thấm nhuần lời Phúc Âm Thánh Luca: "Cha sai con đi để mưu cầu tự do cho những người bị áp chế!" Và trước sự lo âu của thân nhân, bằng hữu, Cha Jerzy thản nhiên nói: "Điều tệ hại nhất mà họ có thể gây ra cho tôi là giết chóc về thể xác!"
Chẵn một năm sau ngày ban hành lệnh thiết quân luật, Cha Jerzy ngă bệnh vào lúc 2 giờ sáng v́ quá kiệt sức trong khi chuẩn bị những gói quà Giáng Sinh cho trẻ em trong bệnh viện. Chuông nhà thờ ngân vang nhưng Cha Jerzy không gượng dậy được, và cũng chính nhờ thế mà Cha đă thoát chết trong một cuộc mưu sát tàn bạo, v́ ngay ít phút sau đó một trái bom nổ tung trong pḥng bên cạnh làm bể nát cửa sổ nơi Cha Jerzy thường đứng mỗi sáng trước khi ra nhà thờ hành lễ.
Vụ mưu sát đầu tiên này đă cho Cha Jerzy thấy rơ tính cách trầm trọng của vấn đề, nhưng Cha vẫn luôn tâm niệm là chủ chiên không thể tách ĺa đàn chiên của ḿnh. Kiểm điểm lại danh sách những thành viên yểm trợ phong trào công nhân bị đánh đập, bắt cóc thủ tiêu, bị "tai nạn" hoặc "tự tử" do một âm mưu sắp xếp bí mật nào đó, phối hợp với vụ mưu sát trắng trợn vừa xẩy ra, Cha Jerzy bằng ḷng đặt ḿnh dưới sự bảo vệ của anh em. Từ đấy các công nhân nhà máy thép thay phiên nhau bám sát Cha Jerszy 24/24 giờ "giống như bảo vệ một kho báu, một người anh em bảo vệ anh em ḿnh", như lời tâm sự của một công nhân.
Âm Mưu
Một hôm, một công nhân t́m tới Cha Jerzy với nét mặt buồn rầu tuyệt vọng. Anh thú nhận với vị Linh Mục trẻ là v́ áp lực và đe dọa anh đă phải kư vào biên bản nhận làm chỉ điểm viên cho Công An Nhà Nước. Sau khi thỏa thuận về phương thức giải quyết để gỡ rối cho người công nhân, Linh Mục Jerzy đă dùng chính câu chuyện của anh để đưa vào bài thuyết giảng h́nh ảnh của ḷng trung tín và sự phản bội. Ông lớn tiếng kêu gọi Công Đoàn Đoàn Kết bảo vệ người công nhân can đảm và tiếp tay với anh trong việc khước từ những nhượng bộ tinh thần, v́ theo Cha Jerzy, để "chiến thắng áp bức cần phải chiến thắng sự sợ hăi." Một khi nội vụ được công khai hóa, Công An Nhà Nước đành ngậm miệng làm ngơ, bỏ qua sự việc. Từ đấy mưu toan khóa miệng Cha Jerzy được sắp đặt kỹ càng hơn với sự quan tâm của đích thân Tổng Trưởng Nội Vụ Ba Lan.
Một chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ được Nhà Nước phát động nhằm vào Cha Jerzy. Thôi th́ đủ thứ tội danh đă được gán cho vị Linh Mục quả cảm này. V́ lo sợ Cha Jerzy có thể bị bắt đi thẩm cung, giáo dân đă phối hợp với công nhân liên thủ canh chừng nơi cư ngụ của Cha. Nhưng rồi Cha Jerzy vẫn không thoát khỏi bàn giấy Công An khi chính quyền Cộng Sản đạt được sự thoả hiệp với Giáo Hội Ba Lan cho phép thẩm vấn Linh Mục. Chính lúc vừa chấm dứt cuộc tra khảo của Công An th́ Cha Jerzy nhận được tin căn pḥng của Cha bị khám xét. (Căn pḥng này vốn là quà tặng của người cô ruột ở Mỹ lúc bà c̣n sinh thời). Cha Jerzy tỏ dấu thản nhiên v́ nơi cư ngụ của Ngài chẳng có ǵ có thể bị coi là quốc cấm. Nhưng khi Cha Jerzy cùng với các giới chức Công An tới nơi th́ các dụng cụ chụp h́nh, quay phim của Cảnh Sát và đài truyền h́nh Ba Lan đă túc trực sẵn sàng. Vào đến trong nhà, không cần khám xét lục lọi, chỉ trong ṿng vài ba phút, Công An đă t́m ra được đủ thứ từ lựu đạn, chất nổ tới súng ống đạn dược, và những truyền đơn kêu gọi một cuộc vơ trang nổi dậy!
Kết quả là Cha Jerzy bị đẩy vào tù giữa ngày kỷ niệm năm thứ hai lệnh thiết quân luật. Cha đă bị giam chung với bọn trộm cướp, trong đó có cả một tên sát nhân. Mặc dầu sức khỏe yếu kém, Cha Jerzy vẫn không bị ngă gục trước cơn thử thách như sự chờ đợi của Nhà Nước Cộng Sản. Chỉ trong giây lát Cha đă chinh phục được sự kính trọng của những phạm nhân khác trong tù. Và ngay cả tên sát nhân cũng bắt đầu cởi mở với Cha. Hai người tâm sự với nhau suốt sáng. Dần dà Cha Jerzy nhận ra những đổi thay nơi kẻ giết người. Đến gần rạng đông, người đàn ông bật khóc và xin lănh bí tích ḥa giải với Thiên Chúa qua Cha Jerzy. V́ không có phương tiện cho hối nhân rước lễ, Cha Jerzy đă làm phép mẩu bánh trong nhà giam và trao cho anh. Sáng sớm hôm sau, Cha Jerzy được phóng thích. Cha nói với kẻ sát nhân là Cha rất vui v́ được trải qua một đêm không ngủ thật nhiều ư nghĩa.
Điều bất hạnh cho Cha Jerzy là việc làm của Cha đă không được sự tán trợ của Đức Hồng Y Glemp, người cầm đầu Giáo Hội Ba Lan. Quan điểm của vị Hồng Y này là bằng mọi giá phải duy tŕ cuộc đối thoại với chế độ và vấn đề tôn trọng nhân quyền phải đặt căn bản trên những mối liên hệ tốt với chế độ (!) Trong khi ấy, nhà cầm quyền CS Ba Lan đă chuyển tới tay Hồng Y Glemp một danh sách liệt kê 69 giáo sĩ thuộc thành phần chống phá xă hội chủ nghĩa, trong đó dĩ nhiên Cha Jerzy Popieluszko là người đứng đầu. Ngay sau đó, một số Linh Mục đă bị thuyên chuyển tới những vùng xa xôi hẻo lánh. Phần Cha Jerzy cũng được vị Giáo Chủ Ba Lan chuẩn bị cho rời nhiệm sở.
Giữa t́nh trạng tuyệt vọng như thế th́ hai điệp văn từ Vatican gửi qua. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gửi tới Cha Jerzy phép lành Ṭa Thánh và chuỗi Môi Khôi đặc biệt kèm theo lời khích lệ là "hăy cho Cha Jerzy hay là tâm hồn Ta luôn ở bên Cha." Với Hồng Y Glemp, vị lănh đạo tối cao của thế giới Công Giáo viết: "Hăy bảo vệ Cha Jerzy Popieluszko, nếu không có ngày họ sẽ t́m thấy vũ khí ngay tại bàn giấy mỗi Đức Giám mục..."
Vị Giáo Chủ Của Công Nhân
Giới hữu trách Ba Lan thừa hiểu rằng Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II rất ưu ái Cha Jerzy, bởi lẽ cả hai cùng chia sẻ một cách sâu đậm về một cuộc cách mạng luân lư bất bạo động. Cha Jerzy luôn luôn trích dẫn lời Đức Thánh Cha. Về phần vị Cha Chung rất ngưỡng phục việc làm của vị Linh Mục trẻ, điều mà chính Ngài đă từng làm. Trên b́nh diện rộng răi hơn là cuộc thử lửa giữa Vatican và Mạc Tư Khoa, tinh thần Cha Jerzy đă làm vui ḷng vị Giáo Hoàng gốc Ba Lan.
Tháng 5 năm 1984, Tướng Wojeiech Jaruzelski chủ tịch Nhà Nước Ba Lan qua Nga hội đàm với các nhà lănh đạo điện Cẩm Linh, trong đó bao gồm cả đương kim Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev. Đối với Mạc Tư Khoa, vị Linh Mục thợ có giọng nói mềm mỏng là một biểu tượng nguy hiểm cho đế quốc Sô Viết. Trở về Ba Lan, Jaruzelski chỉ thị cho báo chí mở chiến dịch công kích Cha Jerzy và các Linh Mục được coi là "cực đoan" khác. Những thư từ và những cú điện thoại hăm dọa tới tấp đến với Cha Jerzy. Bất cứ nơi nào Cha Jerzy thuyết giảng, Công An ch́m đều xâm nhập, rải truyền đơn khích động, với dụng ư xúi giục quần chúng bạo động để có cớ tiêu diệt uy tín Cha Jerzy. Và chỉ trong ṿng nửa năm đầu 1984, giới chức an ninh đă thẩm vấn Cha Jerzy 13 lần.
Trong "Thánh lễ cầu cho quê hương" tháng 5 năm 1984, với trên 10.000 người tham dự, Cha Jerzy đă lên tiếng ca ngợi ḷng can đảm của 11 lănh tụ của Công Đoàn Đoàn Kết hiện đang bị giam giữ, khi những nhân vật này cương quyết bác bỏ một cuộc mặc cả của chế độ trong đó có cả đại diện của Giáo Chủ Ba Lan là họ sẽ được trả tự do nếu chịu từ bỏ những hoạt động của Công Đoàn. Cha Jerzy ca ngời ḷng can đảm của các tù nhân lương tâm này v́ họ "đă không phản bội lư tưởng chung."
Sự kiện trên đă chọc giận vị Giáo Chủ và các cố vấn của Ngài. Do đó đă có một thỏa hiệp với chế độ nhằm khóa miệng Cha Jerzy. Nhưng thỏa hiệp đă trở nên vô hiệu v́ thái độ cương quyết của vị Linh Mục trẻ. Cha nói: "Nếu tôi im tiếng có nghĩa là tội ác đă thắng." Tấm gương của Cha Jerzy và sự tán thưởng của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă thúc đẩy nhiều Linh Mục khác đứng ra tổ chức các "Thánh lễ cầu cho quê hương", tại địa sở của họ. Phần Cha Jerzy đă được mời đi thuyết giảng khắp nơi trong nước. Trong các xí nghiệp, người ta mệnh danh Cha là "Vị Giáo Chủ của công nhân."
Đợi Chờ Điều Tệ Hại Xảy Đến
Mùa Hè 1984, cả Công Đoàn và Giáo Hội đều nhận được tin là Công An mật đang phác họa chương tŕnh hạ sát một trong ba Linh Mục chống chế độ, trong đó có Cha Jerzy. Người ta được biết kể từ sau khi thiết quân luật, Giám Mục Kazimierz Kluz, người được coi là cương trực hay nói thẳng và tu sĩ Honoriusz Kowalezyk đă bị giết trong những tai nạn xe hơi có bóng dáng của Công An mật. Riêng Cha Jerzy, trong năm 1984 cũng đă thoát hiểm hai lần trong những "tai nạn" tương tự.
Các công nhân tăng cường gấp đôi việc bảo vệ Cha Jerzy. Nhiều xe an ninh Nhà Nước và cả xe nhà binh đậu quanh nhà vị Linh Mục này. Căn Apartment của Cha giờ đây không c̣n là nơi mở ra để giúp đỡ những người thiếu thốn cùng khổ nữa. Bù lại, Cha Jerzy mặc dù hết sức mệt mỏi vẫn t́m cách thăm viếng gia đ́nh của các công nhân bị tù hoặc bị sa thải khỏi xí nghiệp. Cha tiếp tục mang đồ cứu trợ giúp những người nghèo đói, bệnh tật quanh vùng thủ đô Varsovie. Cha c̣n lo đưa Ḿnh Thánh tới tận nhà cho những người già cả yếu đau trong họ đạo. Hằng đêm Cha Jerzy bị mất ngủ v́ thần kinh căng thẳng. Trong một Thánh Lễ, sau phần cầu nguyện thường lệ Cha quay về phía giáo dân nói: "Lúc này tôi cần tới lời cầu nguyện của anh chị em."
Nhà Nước đưa ra một lời mặc cả với Cha Jerzy là nếu chịu ngưng các "Thánh lễ cầu cho quê hương" th́ đổi lại Cha sẽ được Nhà Nước xóa bỏ mọi "tội lỗi". Ngày 26 tháng 8 năm 1984, Cha Jerzy đă khẳng khái tuyên bố trước cộng đoàn giáo dân đông đảo nhất đời Cha là: "Chúng ta không sợ điều ǵ. Chúng ta chỉ sợ sự phản bội!" Với dáng vẻ xanh xao nhưng quyết liệt, Cha nói tiếp: "Công Đoàn Đoàn Kết tiếp tục sống c̣n v́ nó là niềm khao khát trong tim mọi người, niềm khao khát yêu thương, ḥa b́nh và chân lư." Và Nhà Nước đă lên tiếng cảnh cáo Giáo Hội Ba Lan là cuộc đối thoại giữa đôi bên sẽ bị đe dọa nếu Giáo Hội c̣n che chở những Linh Mục cực đoan như thế.
Các cuộc họp bàn giữa những thành phần tối cao trong Đảng được triệu tập mà mục tiêu chính vẫn là Cha Jerzy. Các tay trùm an ninh sợ rằng nếu đụng tới các giáo sĩ khác trước sẽ khiến việc bảo vệ Cha Jerzy được các công nhân tăng cường có thể đến mức Cha trở thành nhân vật "bất khả xâm phạm". Cũng đă có sự dàn xếp để Cha Jerzy đi du học ở La Mă nhưng Cha từ chối.
Vào lúc giới hữu trách xiết chặt ṿng vây th́ Cha Jerzy về thăm làng cũ. Tại đây Cha nói với Linh Mục bản sở là Cha sẵn sàng "chờ đợi điều tệ hại nhất... nhưng không có ǵ đáng sợ ngoài sự phản bội." Khác với những lần viếng thăm trước đây, lần này Cha Jerzy tha thẩn thăm từng xó xỉnh trong nhà. Ông mời cha mẹ già tham dự "Thánh lễ cầu cho quê hương." Thân mẫu Cha nh́n người con trai Linh Mục dạo bước trên cánh đồng giống như đang nói lời giă biệt!
Tai Nạn Đẹp Mắt
Ngày 12 tháng 9 năm 1984, tờ Sự Thật tung ra chiến dịch công kích Cha Jerzy. Mạc Tư Khoa lên án Cha đă cấu kết với "những kẻ phản Cách Mạng." Ngày 17 tháng 9, Tổng Trưởng Tôn Giáo Vụ gửi cho giáo quyền Ba Lan một văn thư với những lời lẽ tương tự. Jerzy Urban, cố vấn thân cận của Chủ Tịch Nhà Nước gọi Cha Jerzy là "tên phù thủy chính trị." Sau này, qua phát giác của những nhân chứng lúc Cha Jerzy đă bị thảm sát, người ta được biết ngay lúc ấy Công An mật đă phác họa kế hoạch "tạo một tai nạn lưu thông ngoạn mục" bằng xe hơi hoặc đẩy vị Linh Mục này từ một toa xe lửa đang chạy!
Trong khi ấy, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vẫn chăm chú theo dơi những biến cố ở Varsovie. Ngài e ngại cho sinh mạng Cha Jerzy, v́ trong một bức thư gửi cho Ngài, Cha Jerzy viết: "Người ta phải chấp nhận khổ đau v́ Chân Lư. Đấy là lư do tại sao con sẵn sàng chờ đợi bất cứ điều ǵ." Dịp này, Đức Thánh Cha đă gửi phép lành đặc biệt và một cây Thánh Giá cho Cha Jerzy.
Theo kế hoạch đă được trù định, Cha Jerzy sẽ bị giết ở ngoài thủ đô Varsovie để tránh sự can thiệp của các công nhân bảo vệ Cha, đồng thời cũng để tránh sự xoi mói của dư luận. Waldemar Chrostowski, người tài xế t́nh nguyện, đồng thời cũng là vệ sĩ của Cha Jerzy từng bị Công An thẩm vấn nhiều lần và buộc phải chấm dứt sự liên hệ mật thiết này. Khi Waldemar tỏ ra bất chấp lời cảnh cáo th́ căn nhà của ông ta đă bị phá hủy b́nh địa bằng bom lửa. Chính quyền đă tŕ hoăn việc điều tra vụ này mặc dầu Waldemar vốn là một nhân viên của sở cứu hỏa tại Varsovie!
Cũng do những tiết lộ sau này của nhân chứng, ngày 9 tháng 10 năm ấy, một mật lệnh được đưa ra: LM Jerzy sẽ bị thủ tiêu và nếu có ai cùng đi chung với ông, người ấy cũng sẽ bị giết để phi tang. Vào giữa buổi trưa ngày 13 tháng 10 năm 1984, một tiểu đội đặc biệt mai phục trên đoạn đường giữa Varsovie và Gdansk để dàn xếp một "tai nạn đẹp mắt" khi Cha Jerzy trở về sau một "Thánh lễ cầu cho quê hương." Nhưng nhờ phản ứng mau lẹ của Waldemar Christowski, xe chở Cha Jerzy đă thoát khỏi mai phục của toán Công An đặc biệt.
Sau vụ này, Cha Jerzy cảm thấy hết căng thẳng. Ông nói với một người bạn: "Tôi không biết tại sao, nhưng tôi không c̣n cảm thấy sợ hăi nữa."
Bắt Cóc Và Bạo Hành Man Rợ
Khi ra ngoài, Cha Jerzy thường ăn mặc sơ sài. Nhưng hôm Thứ Sáu 19 tháng 10 năm 1984, Cha lại mặc áo dài Linh Mục. Như thường lệ, Cha mang theo xâu chuỗi Đức Thánh Cha tặng, v́ đấy là báu vật nhất đời của Cha. Được mời thuyết giảng tại nhà thờ thuộc thành phố Bydgoszez, Cha Jerzy tiếp tục nói về đề tài "Đạo đức thắng gian tà." Sau đó, mặc dù giáo dân đề nghị ở lại nhưng Cha Jerzy quyết định ra về ngay trong đêm. Có người nhận diện viên đại úy Grzegorz Piotrowski, người từng được giao phó việc theo dơi Cha Jerzy từ lâu, trên chiếc Fiat đậu ngoài giáo đường. Cạnh y c̣n có hai sĩ quan cao cấp thuộc pḥng 4 sở Công An. Đây cũng là bọn người từng ŕnh rập Cha Jerzy 6 ngày trước đó.
Khi chiếc xe chở Cha Jerzy do Waldemar Christowski lái tới một quăng đường vắng cách Bydgoszez khoảng nửa giờ th́ bị bọn Công An chặn bắt. Waldemar bị uy hiếp bằng súng trong khi tên đại úy Piotrowski lôi Cha tới chiếc xe Fiat: "Các ông làm ǵ thế?" Vị Linh Mục phản kháng: "Các ông có thể xử với một người như thế sao?" Với thái độ cục cằn lạnh lẽo, bọn Công An đánh vào sọ và mặt Cha Jerzy đến ngất xỉu. Sau đó chúng trói Cha lại và liệng vào thùng xe. Phần Waldemar, nhờ là một cựu com-măng-đô, nên đă nhân lúc bất ngờ liều lĩnh lăn ḿnh trốn khỏi chiếc Fiat trong khi chiếc xe đang lao vào khu rừng vắng. Nhưng khi anh tới được pḥng cấp cứu bệnh viện Torun th́ đă có đội Công An mật đợi anh ở đấy. Tuy nhiên, anh đă kịp thời báo động cho các giới chức trong Giáo Hội hay biết nội vụ.
Mặc dầu một sĩ quan trẻ tỏ dấu lo ngại đă bị nhận diện và đưa đề nghị bỏ Cha Jerzy trong rừng, chỉ khủng bố mà không giết, nhưng tên đại úy lạnh lùng ra lệnh "Jerzy Popieluszko phải chết!"
Buổi tối hôm sau, thân mẫu Cha Jerzy thao thức không sao ngủ được. Bà mở Ti-vi và khi nghe thấy tên Popieluszko bà khuỵu xuống âm thầm cầu nguyện. Thay v́ quàng khăn đen, bà quàng chiếc khăn đỏ. Tự dưng bà cảm thấy con trai bà "c̣n sống và đang bị tra khảo hành hạ đâu đó."
Do sự vượt thoát của Waldemar, tin tức về vụ Cha Jerzy bị bắt cóc đồn ra khắp nước rất nhanh gây chấn động mạnh trong ḷng mọi người. Hàng ngàn tín hữu đổ về giáo đường St. Stanislaw để cầu nguyện cho vị Linh Mục trẻ đầy tinh thần quả cảm của họ. Một số lượng đông đảo nhân viên an ninh được huy động tới để bao vây nhà máy thép Varsovie, nơi các công nhân đang vừa làm việc vừa cầu nguyện. Các giáo đường tại khắp nơi trên lănh thổ Ba Lan cũng chật ních người. Họ canh thức 24/24 giờ để đ̣i trả tự do cho Cha Jerzy. Nhiều xí nghiệp cũng tổ chức những buổi cầu nguyện tương tự.
Sau 10 ngày chờ đợi, quần chúng khắp nước không c̣n giữ được kiên nhẫn nữa. Giới hữu quyền CS Ba Lan lo sợ một sự bùng vỡ vô phương cứu văn có thể xẩy ra khi quan sát bầu khí sôi sục tại Thủ Đô. Tập thể công nhân nhà máy thép Varsovie chuẩn bị đ́nh công với sự hưởng ứng của nhiều xí nghiệp khác nếu "vị Giáo Chủ công nhân" của họ không được trả tự do. Tại các đại học, nhiều sinh viên bị cảnh sát đánh đập khủng bố v́ họ lên tiếng ủng hộ yêu sách của công nhân. Trong khi ấy, nhiều đô tỉnh thị đă được các giới chức an ninh Nhà Nước đặt trong t́nh trạng khẩn trương.
Vào Chúa Nhật cuối cùng tháng 10 năm 1984, lối 50.000 người đă tràn về nhà thờ St. Stanislaw tham dự "Thánh lễ cầu cho quê hương" được tổ chức ngoài trời lạnh lẽo. Rừng người yên lặng nghe cuốn băng thâu bài thuyết giảng cuối cùng của Cha Jerzy tại Bydgoszez với đề tài "Đạo đức thắng gian tà." Đứng trước phản ứng cuồng nhiệt được coi là lớn lao nhất kể từ khi Công Đoàn Đoàn Kết khai sinh, Nhà Nước Cộng Sản Ba Lan thấy khó có thể tiếp tục ếm nhẹm nội vụ. V́ thế, qua ngày thứ 11, họ cho kéo xác Cha Jerzey từ một hồ nước trên sông Vistula cách thủ đô Varsovie 80 dặm về hướng tây bắc. Một chiếc túi đựng đá c̣n lủng lẳng dưới chân Cha.
Khám nghiệm tử thi, người ta ghi nhận nạn nhân đă bị bạo hành hung hăn đến nỗi từ đầu đến chân đều bầm dập những vết thương tàn bạo c̣n rỉ máu. Mặt Cha Jerzy bị méo xẹo, hai bàn tay bị đánh gẫy với những vết cắt cùng khắp. Cặp mắt và trán bị đập đến thâm tím. Quai hàm, miệng, mũi bị đánh bể nát. Cuộc khám nghiệm bên trong tử thi cho thấy Cha Jerzy trước khi tắt thở đă bị hành hạ dă man gây nên nội thương khiến máu c̣n đọng lại trong phổi. Một trong những bác sĩ đă tường tŕnh lại là trong suốt cuộc đời hành nghề y sĩ chưa bao giờ ông chứng kiến một người bị quá nhiều nội thương như vậy!
Khi miệng Cha Jerzy được cậy ra, người ta thấy hàm răng Cha bị bể nát hoàn toàn. Ở vị trí cái lưỡi hùng biện của Cha chỉ c̣n là một mớ thịt bầy nhầy. Một nhóm Linh Mục thân hữu Cha Jerzy cố gắng nhận diện nhưng đành chịu. Cuối cùng, nhờ cái bớt cạnh ngực có từ thuở sơ sinh mà người anh Cha Jerzy mới nhận ra được em ḿnh.
Ngôi Mộ Thánh Đầy Quyền Uy
"Điều tệ hại nhất đă đến." Đấy là lời tuyên bố của lănh tụ Công Đoàn Đoàn Kết Lech Walesa về vụ thảm sát Cha Jerzy. Tại Giáo Đô La Mă, Đức Thánh Cha hết sức xúc động khi theo dơi những tin tức cuối cùng trong đêm. Bầu khí kinh hoàng đau đớn đă choán ngập đêm canh thức 30 tháng 10 tại giáo đường St. Stanislaw khi tin dữ loan ra. Một Linh Mục bắt đầu phát ngôn, nhưng tiếng nói của ông bị lạc vào những tiếng kêu gào, khóc than thảm thiết.
Lúc đầu Nhà Nước đă cố t́nh khỏa lấp trách nhiệm bằng cách nói rằng vụ thảm sát Cha Jerzy là một âm mưu "được tính toán cẩn thận nhằm khích động phong trào chống chế độ" và được thực hiện bởi những thành phần trong Công Đoàn Đoàn Kết đang hoạt động bí mật. Nhưng khi vai tṛ của công an mật bị lôi ra công luận th́ Jerzy Urban và các phát ngôn nhân khác của Vac-Sô-Vi đă vặn tréo sự việc đi là: Vụ sát nhân là hành vi riêng rẽ của đơn vị công an ch́m, và tự nó chống lại chế độ Cộng Sản. Để lấp liếm, Nhà Nước đă bỏ tù một số viên chức an ninh trung cấp, trong khi những thượng cấp của họ không hề hấn ǵ.
Sợ h́nh ảnh Cha Jerzy trở thành một sức mạnh biểu tượng gây bất lợi cho chế độ, giới cầm quyền đă ép buộc song thân Cha Jerzy lo việc chôn cất Cha ở quê nhà. Trong khi ấy, các tín đồ đ̣i hỏi phải tổ chức một lễ an táng thật lớn ở giáo đường St. Stanislaw. Thoáng chốc, hàng ngàn người đă chuyền tay kư một bản thỉnh nguyện gửi Hồng Y Glemp, nhưng vị Hồng Y vẫn không lay chuyển. Choàng tấm khăn đen tang chế, thân mẫu Cha Jerzy đích thân hướng dẫn một phái đoàn công nhân tới gặp thẳng vị Giáo Chủ. Tất cả đều qú gối và bà cụ viện dẫn lư do "Chủ Chiên phải ở gần đoàn chiên của ḿnh." Nhờ thế, thi hài Cha Jerzy đă được yên nghỉ tại giáo đường St. Stanislaw.
Trong ngày tang lễ, 10.000 công nhân với nón sắt trên đầu đă tuần hành ngang qua bản doanh của Công An mật, miệng hát vang "Không có tự do nếu không có Công Đoàn Đoàn Kết". Nửa triệu người tràn ngập trên những con đường dẫn tới giáo đường. Đó đây là những biểu ngữ bị cấm đoán của các xí nghiệp, trường ốc, công sở xuất hiện khắp các xó xỉnh trên toàn quốc Ba Lan với những câu như "Môt cuộc băi công giữa ḷng quốc gia," "Họ không thể giết được linh hồn."....
Toàn quốc lại nhất tề đứng lên một lần nữa sau lần gục ngă của vị Linh Mục trẻ. Tiếng vỗ tay hoan hô vang lên như sấm động trước câu nói: "V́ t́nh yêu Thiên Chúa và Tự Do, một cậu bé khiêm tốn ở đồng quê đă trở thành một tân anh hùng của dân tộc." Tiếp theo những tiếng hô chát chúa: "Liên Đới! Liên Đới!" một biển những bàn tay vươn lên với h́nh chữ V biểu tượng cho lời chào chiến thắng khi lănh tụ Công Đoàn Lech Walesa cao giọng tuyên bố: "Công Đoàn Đoàn Kết sống, bởi v́ chính Cha Jerzy đă cống hiến đời Cha cho Công Đoàn."
Cha Jerzy hiểu rằng cái chết của Cha sẽ tạo nên một sức mạnh vạn năng. Cha từng nói với một người bạn trước lúc bị bắt cóc: "Sống, tôi không thể hoàn tất được mục tiêu." Thoắt chốc, giáo đường St. Stanislaw trở thành một ngôi mộ Thánh đầy quyền uy. Một ḍng sông bất tận những đoàn người hành hương trôi đi ngang qua mồ Cha Jerzy. Những tràng hoa chất đống được dời đi để nhường chỗ cho những tràng hoa khác tiếp tục chất lên. Huy hiệu của hằng trăm trường học và các toán Hướng Đạo chen chúc bên cạnh những bảng hiệu của các xí nghiệp Ba Lan, kể cả những xí nghiệp nhỏ nhất. Hằng ngày người ta ghi nhận có hằng ngàn người, gồm cả đảng viên Cộng Sản, dùng xe buưt hoặc xe xí nghiệp, thay v́ tới nơi chỉ định, đă tới viếng mộ Cha Jerzy.
Dân chúng sợ rằng chế độ sẽ t́m cách triệt hủy nhà mồ Cha Jerzy, một lực lượng canh gác t́nh nguyện gồm 1.000 người chia đội luân phiên tuần pḥng suốt đêm ngày chung quanh sân giáo đường. Đồ trang cụ của họ chỉ có những huy hiệu tṛn mang h́nh Cha Jerzy với câu "Đạo đức thắng gian tà" gài trên ngực áo. Các sinh viên và công nhân có mặt trong lực lượng tuần pḥng tuyên bố: "Đây là một mẩu nhỏ của nước Ba Lan tự do. Chúng tôi quyết bảo vệ nó."
Tinh Thần Bất Diệt
Kể từ đêm Cha Jerzy bị thảm sát, làn sóng trở lại đạo Công Giáo tràn ngập các giáo đường Ba Lan. Những tín đồ lạc hướng cũng t́m về và nói rằng cái chết của vị Linh Mục trẻ đă có tác dụng làm sống dậy trong họ một niềm tin mới. Số người tham dự "Thánh lễ cầu cho quê hương" cử hành kế cận mộ Cha Jerzy đông đúc hơn trước. Từ mật khu, một lănh tụ Công Đoàn viết: "Cha muốn truyền lại cho chúng tôi một phần niềm tin của Người."
Phúc tŕnh Giáo Hội cho thấy tấm gương của Cha Jerzy đă thúc đẩy thế hệ mới được ơn gọi làm Linh Mục. Sự hy sinh của vị Linh Mục can trường cũng châm ng̣i cho những hoạt động trong bóng tối của Công Đoàn Đoàn Kết, cũng như tạo nên một sức can đảm mới trong số những người hoạt động cho nhân quyền. Trong khi chế độ t́m cách bôi nhọ Cha Jerzy và kết án những kẻ theo Cha, th́ quần chúng Ba Lan đă tôn xưng Cha như một vị Thánh. Họ coi Cha như vị Thánh bản mệnh của Công Đoàn Đoàn Kết, một Thánh Tử Đạo vĩ đại nhất của dân tộc Ba Lan kể từ sau Cha Maximilian Kolbe.
Trong buổi lễ an táng, chủ tịch Công Đoàn Đoàn Kết nhà máy thép Varsovie, một cựu đảng viên Cộng Sản, đứng cầu nguyện bên linh cữu Cha Jerzy. V́ những vết thương do tra tấn trên thân thể Cha quá thảm khốc nên quan tài được đậy kín. Bên trong, hai bàn tay bị đánh dập nát của Cha nắm chặt chuỗi Môi Khôi của Đức Thánh Cha tặng. Người công nhân nhà máy thép cất giọng trầm nhưng chắc nịch hỏi: "Jurek, Cha có nghe chăng tiếng chuông tự do ngân vang!" Nửa triệu giáo sĩ và toàn dân Ba Lan đều ở bên Cha Jerzy lúc này.
"Xin hăy ở lại đây với chúng tôi, xem sóc chúng tôi, con tàu của Cha, "những Trái Tim Liên Đới," ra khơi với chúng tôi trên boong mỗi ngày -Jerzy, vị Tuyên Úy khả kính của chúng tôi, xin vĩnh biệt Cha."

ĐỨC TGM PHILIPPHÊ NGUYỄN KIM ĐIỀN (1921-1988)
ĐĂ TỬ ĐẠO NHƯ THẾ NÀO ?
(Lời Chứng của Lm Tađêô Nguyễn Văn Lư, bản bổ sung ngày 25/2/2001)
1. Đức Cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền trước 1975
Đức Cố TGM Điền, sinh năm 1921, nguyên là một Linh mục xuất sắc về đạo đức và trí thức của Giáo phận Sài G̣n. Ngài làm giáo sư Tiểu chủng viện, rồi làm Giám đốc Tiểu chủng viện Giáo phận Sài G̣n. Ngài nói và viết tiếng Pháp gần như một nhà trí thức Pháp. Ngài đă trở nên một trong những thành viên đầu tiên của Ḍng Tiểu Đệ Phúc Âm theo tinh thần của Cha Charles de Foucault do Cha René Voillaume thành lập. Từ đó, Ngài đạp xích lô để mưu sinh và gần gũi với giới lao động. Năm 1960, Ngài được chọn làm Giám mục Cần Thơ. Năm 1964, Ngài được chọn làm Giám quản Tông Ṭa Ṭa TGM Huế. Ít lâu sau Ngài chính thức làm TGM Huế.
Ngài thánh thiện, hiền từ, kín đáo, tế nhị đến nỗi Ngài làm Giám mục ở Huế suốt 11 năm, trừ một căn pḥng nhỏ Ngài dùng để ngủ, c̣n lại tất cả các pḥng khác trong Ṭa TGM Huế cách bày biện trang trí Ngài vẫn cố t́nh để y nguyên như thời Đức TGM Phêrô Ngô Đ́nh Thục, để đợi Đức TGM Thục trở về, ngay cả cái ghế mỗi ngày Ngài qú chầu Ḿnh Thánh Chúa cả tiếng đồng hồ, Ngài cũng để y nguyên như thời Đức TGM Thục vậy. Sau 1975 Ngài mới cho thay đổi, v́ biết chắc chắn Đức TGM Thục không bao giờ trở về nữa.
Ngài có đời sống nội tâm sâu xa, mỗi ngày qú chiêm ngắm Ḿnh Thánh Chúa đủ hoặc hơn một giờ đồng hồ không động đậy, không sách vở. Ngài xưng tội đều đặn với một linh mục đạo đức đang ở hưu tại Nhà hưu dưỡng giáo phận.
Ngài luôn xử sự với mọi người cách lễ độ, ôn tồn. Đặc biệt, với hàng linh mục, Ngài luôn tôn trọng và thân t́nh. Với các tôn giáo bạn, Ngài luôn chân thành kính cẩn. Nhóm Hướng Thiện Phật giáo, một tổ chức từ thiện nổi tiếng ở Huế luôn coi Ngài là Vị Bảo Trợ Tinh Thần, mỗi năm đều đến kính thăm Ngài ít nhất 4 lần : Tết Nguyên đán, Giáng Sinh, Phục Sinh và ngày Giỗ của Vị Bồ tát sáng lập Phạm Văn Siêu. Mỗi lần, họ đều qú lạy Ngài, không bao giờ nhận sự trợ giúp vật chất, chỉ xin Ngài cầu nguyện cho việc từ thiện của họ mà thôi. Ngài đỡ họ dậy, không muốn họ qú lạy như thế, nhưng họ vẫn cứ làm măi.
Đặc biệt là Ngài rất cẩn thận để Giáo Hội tách biệt khỏi chính trị thế tục, đến nỗi suốt 11 năm làm Giám mục ở Huế từ 1964 đến 1975, Ngài không hề sử dụng một chuyến máy bay nào của Không lực Việt Nam Cộng Ḥa và Không lực Hoa Kỳ, Ngài cũng không hề tiếp một Nhân viên nào của Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa hay Sĩ quan cao cấp nào tại Ṭa TGM Huế với tư cách là quan quyền phần đời cả. Đầu năm 1975, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân Khu I, một Vị Tướng lúc đó rất có uy tín trong chế độ Sài G̣n cũ, muốn gặp Đức TGM Điền, Ngài đă trả lời : "Tôi là nhà tu hành, nếu Ngài muốn gặp tôi với tư cách là một con người đi t́m chân lư và b́nh an th́ xin kính mời Ngài đến b́nh thường như mọi người lúc nào cũng được, nhưng nếu Ngài muốn đến thăm tôi với tư cách một Sĩ quan của Quân lực VNCH th́ tôi không đủ tư cách tiếp Ngài". Nghe trả lời thế, Tướng Ngô Quang Trưởng đă không đến.
Năm 1974, Ngài đi dự Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới ở Rôma, nhiều phóng viên báo chí bao vây Ngài, có người hỏi Ngài : "Có dư luận cho rằng Cộng sản Bắc Việt sẽ chiếm được miền Nam, Ngài nghĩ sao về Cộng sản VN" ? Ngài đă trả lời rằng : "Là Giám mục Công giáo, tôi không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, nhưng người cộng sản Việt Nam cũng là người anh em của tôi". Sau đó, có dư luận cho rằng Ngài là TGM "đỏ".
Đầu năm 1975, Ngài tiên đoán quân CS Bắc Việt thế nào cũng đánh chiếm Huế, nên có bí mật thăm ḍ các Linh mục Giáo phận Huế để biết nếu quân Bắc Việt chiếm Quảng Trị – Thừa Thiên, th́ liệu có bao nhiêu Linh mục t́nh nguyện ở lại để làm việc trong chế độ cộng sản. Cuộc thăm ḍ cho kết quả đáng buồn : chỉ có 6 trên khoảng 120 Linh mục dám ở lại với CS mà thôi.
Ngài tức khắc vào Sài G̣n t́m 1 Nhà hưu cho các Linh mục già lăo của GP Huế di tản vào và bàn giao Hội Thừa Sai VN cho Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn B́nh để vội về lại Huế cho kịp. Ngày 19.3.75 Ngài về đến Đà Nẵng bằng một trong vài chuyến Boeing cuối cùng của Hàng Không VN lúc đó. Từ Đà Nẵng, xe của Ṭa TGM Huế đưa Ngài về đến Huế lúc 2 giờ sáng ngày 20.03.75. Được biết chỉ c̣n khoảng hơn 6 Linh mục thật sự ở lại trong tỉnh Thừa Thiên, c̣n tỉnh Quảng Trị th́ không c̣n Linh mục nào, Ngài vội nhờ đường dây điện thoại c̣n lại cuối cùng của pḥng Tuyên úy Công giáo để gọi gấp vào Sài G̣n gọi tôi ra, là người đă t́nh nguyện theo Ngài ra sống trong vùng cộng sản.
Tôi đang dâng Thánh Lễ tại Vườn Xoài trong một tuần giảng tĩnh tâm tại đây, nhận được tin Đức TGM Huế muốn tôi ra Huế lúc 6 giờ sáng. Tôi vội về lại cộng đoàn Thừa Sai thu xếp và ra Đà Nẵng lúc 12 giờ trưa ngay ngày hôm đó. Tôi chỉ ra Huế sau Đức TGM Điền 10 giờ đồng hồ, nhưng Đèo Đá Bạc đă bị quân Bắc Việt chiếm, nên từ Đà Nẵng, tôi phải dùng nhiều phương tiện, cuối cùng sau 5 đêm và gần 6 ngày trọn, tôi về được đến Ṭa TGM Huế chiều 25.03.75.
2. Đức Cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền sau 1975
Sáng 26.3, quân Bắc Việt treo cờ giải phóng trên Thành phố Huế. Quân đội giải phóng miền Nam VN thực chất cũng là quân Bắc Việt thôi, nhưng phải lấy cớ là quân miền Nam giải phóng để tránh tiếng cho Hà Nội khỏi xâm lược miền Nam.
Ngay ngày 01.04, Ủy Ban Quân Quản tỉnh Thừa Thiên đă mời Đức TGM Điền tham dự buổi mit-tinh để chào mừng ngày Huế giải phóng. Ngài đă phát biểu theo tinh thần tích cực, vui mừng v́ chiến tranh chấm dứt tại một phần Đất Nước. Sau đó Ngài đều cổ vũ mọi người vui sống theo tinh thần lạc quan đó. Ngài phổ biến tập sách "Tôi Vui Sống" để hướng dẫn Dân Chúa sống Phúc Âm trong hoàn cảnh mới một cách tích cực.
Để đề pḥng việc có thể thiếu vắng Chủ Chăn, Ngài dùng năng quyền đặc biệt, ngày 09-7-1975, tấn phong ngay Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể làm TGM Phó với quyền kế vị.
Dịp 02.09.75, Ngài xin đi Hà Nội để chào mừng Đức Hồng Y Tiên Khởi của Giáo Hội Công giáo Việt Nam : Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê, đồng thời để 2 Vị Lănh đạo gặp nhau lần đầu tiên. Trên đường đi, Ngài thăm 2 Đức Giám mục Gp Vinh và Thanh Hóa. Tại Hà Nội, Ngài gặp Đức Giám mục Bắc Ninh hiện nay là Đức Hồng Y Giuse Maria Phạm Đ́nh Tụng. Ngài lưu lại Ṭa Tổng Giám mục gần 2 tuần, gặp Đức TGM Phó Hà Nội, sau nầy là Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn, gặp Cha Fx. Nguyễn Văn Sang, hiện nay là Giám mục Thái B́nh, Tổng Thư kư HĐGMVN, gặp Cha Tổng Đại diện Trọng, hiện nay là GM Phụ tá Hà Nội, gặp cha Nguyễn Tùng Cương, về sau làm Giám mục Hải Pḥng, gặp Cha Tông, hiện nay là Tổng Đại Diện TGP Hà Nội, và nhiều linh mục quan trọng khác. Chuyến đi miền Bắc nầy giúp Ngài thấy rất rơ CSVN đối xử thế nào với các Tôn giáo tại VN và nhất là Giáo hội Công giáo VN. Về lại Huế, CSVN yêu cầu Ngài viết và nói lại chuyến đi ấy, Ngài nhất mực từ chối. CSVN cũng mời tôi, Linh mục Thư kư cùng đi với Ngài làm như thế, nhưng tôi cũng từ chối.
CSVN đàn áp các tôn giáo càng ngày càng rơ rệt, nhất là việc phân biệt đối xử các Tín hữu ghi rơ trong lư lịch ḿnh là "công giáo". Biết bao nhiêu sinh viên công giáo không thể tốt nghiệp đại học, bao nhiêu học sinh công giáo không thể thi vào đại học, bao nhiêu nhân viên bị mất việc làm chỉ v́ ḿnh là công giáo. Việc bổ nhiệm, thuyên chuyển Linh mục càng ngày càng khó khăn. Giữa năm 1975, Ngài phong chức được 2 linh mục, đầu năm 1976, được 4 Linh mục và sau đó đành chịu. Măi 18 năm sau, năm 1994, Đức TGM Têphanô Nguyễn Như Thể mới phong chức được thêm 5 linh mục khác.
Từ một người rất sợ cộng sản, nhưng trong Đức Tin và Đức Ái, Đức TGM Điền cố gắng sống cởi mở, hài ḥa, tích cực. Nhưng dần dần Ngài nhận thức rơ, CSVN thực sự muốn tiêu diệt các Tôn giáo và nhất là công giáo. Năm 1977, nhân 2 cuộc họp do Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam (UBMTTQVN) tổ chức, Đức TGM Điền đă phát biểu 2 bài đ̣i Tự do Tôn giáo, trong đó Ngài xác nhận, người công giáo bị đối xử là "công dân hạng hai". Tôi đánh máy ra và phổ biến cho các Linh mục Gp Huế. Ít lâu sau, 2 bài nầy được in ra khá nhiều ở Sài G̣n và báo chí nước ngoài đăng lại. Cuối tháng 08.77, Linh mục Hồ Văn Quư, Giám đốc Đại chủng viện Huế và tôi bị bắt, các ṭa án nhân dân của các tổ chức quần chúng kết án chúng tôi 20 năm, nhưng năm 1977, Việt Nam vừa nộp đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc, nên chiều 24.12.77, hai chúng tôi được đột ngột thả ra. CSVN buộc Đức TGM Huế phải bổ nhiệm 2 anh em chúng tôi đi làm việc, không cho ở Nhà Chung, nhưng không được bổ nhiệm ở thành phố, giáo xứ lớn, ở vùng núi, ở vùng biển; chỉ được ở giáo xứ nhỏ vùng quê mà thôi. Đầu tháng 7. 1978, Linh mục Augustinô Hồ Văn Quí đi Bố Liêu, Quảng Trị; c̣n tôi đi Đốc Sơ, gần Tp Huế.
Trước Giáng Sinh 1979, CSVN dùng bạo lực cưỡng chiếm Tiểu chủng viện Hoan Thiện, đuổi 3 Linh mục đang dạy trong đó phải đi làm việc khác và hơn 80 chủng sinh phải về sống với gia đ́nh. Giáng Sinh năm đó, Đức TGM Điền ra lệnh cho cả Giáo phận Huế phải để tang cho đứa con yêu 149 tuổi nầy đă bị giết. Ngài nói: "Chủng viện là con mắt của Giám mục, nay tôi đă bị móc mắt rồi". Cả Giáo phận quá đau ḷng về việc Tiểu chủng viện bị cưỡng chiếm.
Lúc bấy giờ, CSVN không muốn giáo hữu đi hành hương kính Đức Mẹ La Vang, ngăn chận xe khách dọc đường, đuổi tất cả những ai muốn đi La Vang xuống. Nên việc hành hương kính Đức Mẹ La Vang rất khó khăn. Cha Tôma Trần Văn Cầu, Quản xứ Trí Bưu phụ trách Trung Tâm La Vang; về sau Cha Emmanuel Nguyễn Vinh Gioang, Quản xứ Diên Sanh phụ trách La Vang, và tất cả các Linh mục vùng Quảng Trị đă phải kiên tŕ đấu tranh bằng nhiều cách để có thể đưa giáo hữu đến La Vang. Dịp 15-08-1981, tôi phải hướng dẫn khách hành hương La Vang bị chận dọc đường, đứng tại chỗ mà hướng về La Vang mà nguyện kinh 4 lần 4 nơi khác nhau, mới có thể khai thông tuyến đường. Năm đó, lần đầu tiên sau 75, số người hành hương La Vang lên đến 10 ngàn người. Sau đó, CSVN kết án 5 chủng sinh từ 2 đến 4 năm tù và đuổi 5 chủng sinh khác về nhà v́ "tộïi"ù nêu sự kiện "nguyện kinh" nói trên trong một vở kịch vui nhỏ. Nhà nước cho đó là "tuyên truyền phản cách mạng".
Từ 1976, Đức TGM Huế không truyền chức linh mục được thêm cho một chủng sinh nào. Đại chủng viện Huế coi như bị đóng cửa với 1 Linh mục giám đốc duy nhất. Các Ḍng tu liên tiếp gặp quá nhiều khó khăn. Phải tu chui, khấn chui, một cách vô lư và rất ấm ức. Các giáo xứ kinh tế mới và xa xôi quá khó khăn mới có một Thánh Lễ dịp Giáng Sinh, Phục Sinh,...
Năm 1980, cùng với Đức TGM Phó Têphanô Nguyễn Như Thể, Ngài đi dự buổi họp đầu tiên của HĐGMVN tại Hà Nội. Khi về lại, cả 2 Vị TGM đều rất buồn về Bức Thư Chung không được vừa ư, nhưng v́ muốn bày tỏ tính hiệp nhất của Giáo hội mà đành ḷng kư chung. Thư Chung nầy, hầu như không có Linh mục Gp Huế nào đọc chung trong Nhà Thờ cho giáo hữu nghe, chỉ trừ một Linh mục duy nhất là Linh mục nay đă qua đời. Sau đó, Ngài được đi Rôma. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă gọi Ngài là "TGM anh dũng", chia sẻ với Ngài công thức lừng danh để sống trong chế độ cộng sản : "cộng tác trong t́nh trạng luôn luôn đề kháng" (collaborer en résistant). Trong lần này, Đức Tổng Điền cũng hỏi Đức Gioan-Phaolô II nghĩ thế nào về Cộng sản. Đức Thánh Cha chỉ trả lời cách đơn giản bằng tiếng Pháp: "Mensonge! Rien que mensonge!" (Dối trá! Toàn là dối trá!)
Năm 1983, CSVN kết án tôi 10 năm tù ở và 4 năm tù quản chế rồi đưa tôi ra Thanh Hóa. CSVN lại bắt Linh mục Lê Thanh Hoàng, kết án 3 năm, nhưng phải ở 5 năm.
Ngài lặp đi lặp lại nhiều lần, tại nhiều nơi : VN chưa có tự do tôn giáo thực sự. Nhiều lần, Ngài viết thư cho Hội Đồng Giám mục Việt Nam và Linh mục Nguyễn Hữu Vịnh, Chủ tịch Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo (UBĐKCG) chứng minh rằng Giáo Hội Công giáo VN đang bị bách hại thực sự ; và GHCGVN đă có Hội Đồng Giám mục VN là cơ quan chính thức để điều hành sinh hoạt Giáo hội, liên lạc với Chính quyền Cộng sản, không cần có thêm một Ủy ban nào hết. Nếu UBĐKCG hoạt động th́ UB ấy cao hơn HĐGMVN, tạo nên sự bất hợp lư trong Giáo hội. (Tại nhiều giáo phận, việc thuyên chuyển, bổ nhiệm linh mục, việc du học và du lịch nước ngoài do UBĐKCG nầy lèo lái, sắp đặt). Ngài viết : "Ai không đi qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp" (Ga 10,1).
Ngài phải t́m cách chuyển các tài liệu ấy ra nước ngoài. V́ thế, Ngài đă bị CSVN gây ra bao nhiêu đau khổ. Rất tiếc, hiện nay tất cả các tài liệu nầy có lẽ đă bị một Linh mục của Ṭa TGM Huế thiêu hủy năm 1994 (đành phải dấu tên cho Linh mục ấy). Khi đó, có một Nữ tu thấy và biết, khóc lóc xin đừng làm như thế, nhưng Linh mục nầy vẫn không nghe, v́ cho rằng những tài liệu ấy không phù hợp và có hại (?!). Tôi chưa thể có đủ điều kiện kiểm chứng lúc nầy được. Hi vọng vẫn có ai đó trên trái đất nầy c̣n cất giữ được.
Linh mục Nguyễn Hữu Giải nhiệt t́nh chống đối việc thành lập UBĐKCG cũng như đă khước từ giao nộp cho nhà nước giấy tờ Tiểu Chủng viện Hoan Thiện (nay nhà nước đă cướp lấy và biến thành trường Nguyễn Chí Diễu, ở 11, Đống Đa Huế) nên ngày 26.11.1983, Linh mục Giải bị bắt, bị ở trại tập trung đến cuối 1989 mới được thả, dù không có tội ǵ. Nhiều Linh mục, Tu sĩ khác bị triệu tập làm việc rất căng thẳng. Đức TGM Điền càng đau buồn.
Rồi Lm Phêrô Trần Văn Quí, Thư kư của Ngài bị bắt và bị quản chế. Về sau bị cưỡng bức đưa đi giáo xứ Buồng Tằm, một giáo xứ nhỏ tận thượng nguồn sông Hương, nhưng Linh mục Quí phản đối và bỏ vào Sào G̣n học thêm tin học và ngoại ngữ. Năm 1995, Lm Quí được bổ nhiệm làm Quản xứ Phường Đúc và Nguyệt Biều.
Đức TGM Điền đă nói một câu rất thời danh : "Xưa nay đă có nhiều Giám mục, Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân đă chết v́ Đạo, nhưng đă có mấy ai dám chết v́ quyền con người ?"
3. Đức Cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền đă Tử Đạo thế nào ?
Năm 1975, Đức TGM Điền không hề bị một bệnh nào, chỉ thỉnh thoảng bị cảm lạnh. Nhưng chịu quá nhiều phiền toái do CSVN gây ra như bị ép buộc kư giấy trao cho CSVN sử dụng hầu hết các cơ sở giáo dục và từ thiện của Giáo phận, bị triệu tập làm việc suốt hơn 100 ngày, suốt ngày bị nghe những lời thóa mạ, bị buộc viết các lời khai, bị buộc ăn năn sám hối v́ đă đấu tranh các quyền lợi chính đáng của Giáo Hội, bị buộc tố cáo chê bai các Linh mục, Tu sĩ con cái của ḿnh, không thể truyền chức Linh mục cho các chủng sinh đă học xong từ lâu, không thể bổ nhiệm các Linh mục, có thời gian không thể đi cử hành Nhiệm tích Thêm sức trong giáo phận, nên từ 1981, Ngài bị bệnh nhồi máu cơ tim, thỉnh thoảng tim ngừng đập vài giây, cao huyết áp, xơ cứng động mạch, suy thận, cột sống và đái đường, mỗi thứ một ít, nhưng chưa có bệnh nào nặng đến nỗi gây ra cái chết đột ngột.
Đức TGM Điền qua đời ngày 08-06-1988, lúc bấy giờ tôi đang ở trại giam Nam Hà, Hà Nam Ninh. Khoảng 1 tuần sau đó, tôi chỉ biết tin Ngài qua đời qua nhật báo Nhân dân. Các điện tín và các thư thân nhân (nay c̣n sống và tạm dấu tên) viết báo tin cho tôi Ngài qua đời đều không đến tay tôi.
Cuối năm 1992, tôi ra khỏi tù. Nghe nhiều người bàn tán về cái chết "đầy bí ẩn" của Đức TGM Điền và về các "ơn lạ" mà nhiều người đă xin được nhờ cầu nguyện với Ngài. Tôi qú trước mộ Ngài cầu nguyện rất lâu rằng : "Nếu việc làm sáng tỏ nguyên nhân cái chết của Đức Tổng làm sáng danh Chúa và có lợi cho Hội Thánh CGVN, th́ xin Đức Tổng cầu bầu cùng Chúa phù trợ cho con đủ điều kiện làm xong việc quá khó khăn nầy". Sau đó, tôi bắt đầu âm thầm tiến hành điều tra. Sau đây là kết quả bước đầu. Kính xin mọi người bổ sung đầy đủ hơn :
Cuối tháng 05-1988, Ngài xin vào điều trị tại bệnh viện Nguyễn Trăi, sao cho tạm ổn định để có thể đi Rôma. Ngài rất nôn nóng đi Rôma để báo cáo về Đức TGM Phó mà Ngài định đặt, về Đức GM Phụ tá Giacôbê Lê Văn Mẫn mà Ngài đă tấn phong "bí mật" và về GHCGVN, về GP Huế. Có 2 bác sĩ quen săn sóc, 1 bác sĩ ở đường Sương Nguyệt Ánh, gần Nhà thờ Chợ Đũi và một bác sĩ bạn của bác sĩ nầy. Theo họ, Đức TGM bị ung thư đường tiểu, không thể chữa.
Ngài có bị nhổ 2 răng : 1 răng vàng và một răng khôn, có đem 2 răng ấy đến 42 Tú Xương nhờ em ruột của Nha sĩ Phạm Thị Thân khám. Cô Y tá ở pḥng khám nầy có quen cô Bích Hồng. Cô Nguyễn Thị Kim Anh 12A Trương Quốc Dung, P.10 Phú Nhuận ĐT 08. 8350482 – 08.8449472 quen biết cô Bích Hồng, Thị Nghè, thuộc Tu hội Trợ Tá Tông Đồ, người săn sóc Đức Tổng vào những giờ cuối. Hai Lm Stanislaô Nguyễn Đức Vệ – và Gioakim Lê Thanh Hoàng đi theo Đức TGM Điền để săn sóc Ngài biết cô Hồng nầy.
Không biết có sự gợi ư của CSVN hay không, nhưng cho dù có, th́ cũng chỉ v́ chân t́nh và ngay t́nh, có hai Đức Giám mục (tạm thời xin dấu tên) thăm Ngài hai lần khác nhau tại bệnh viện Nguyễn Trăi, khuyên Ngài xin vào bệnh viện Chợ Rẫy để có thể xét nghiệm làm hồ sơ xin đi nước ngoài chữa bệnh v́ theo hai Đức Giám mục nầy cho biết, trên nguyên tắc CQ CSVN đă đồng ư. Hai Đức GM nầy c̣n cam đoan là CSVN không đến nỗi dùng thủ đoạn ǵ đâu (?!). Ngài nghe lời và xin chuyển qua bệnh viện Chợ Rẫy đầu tháng 06.1988, mục đích là để được khám nghiệm trước khi lên máy bay đi Rôma. Tại đây, các bác sĩ cho rằng bệnh Ngài quá nặng, không chữa được. Có một lần, đau đớn quá, Ngài bấm chuông gọi 2 Cha Vệ – Hoàng đưa Ngài về, v́ không chữa được, nhưng sau đó, có một điện tín báo : Nhà Nước đă cho đi chữa bệnh nước ngoài, giấy tờ đă xong. Ṭa Thánh đă bằng ḷng tài trợ mọi phí tổn. Ngài rất mừng, vui, ăn hết một tô xúp, nhưng bí tiểu.
CSVN từ Huế đă vào Sài G̣n theo dơi Ngài sít sao và tham gia chỉ đạo các kế hoạch. Tôi có thể nêu tên của một sĩ quan công an CS lo việc nầy hiện nay đang công tác tại Huế.
Sáng 6-6-1988, cả 2 Linh mục Huế Vệ và Hoàng theo chăm sóc Ngài đều vắng mặt. Ngài có người em ruột là Nguyễn Thị Thủy, Nữ tu Ḍng Mến Thánh Giá Chợ Quán (quen gọi là D́ Sáu) thường trực bên cạnh Ngài rất chu đáo, cẩn thận, không để Ngài uống thuốc ǵ mà không kiểm tra chặt chẽ. Nhiều Nữ tu Huế xin được vinh dự chia sẻ gánh nặng túc trực chăm sóc Ngài. Sáng hôm đó, Nữ tu Nguyễn Thị Quí, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế, xin phép thay Nữ tu Thủy để được săn sóc Ngài. Bà Thủy không chịu, hai người dằng co nhau, nên Đức Tổng nói : "Thôi em để cho người ta săn sóc một lát, em về nghỉ ngơi đôi chút". Lợi dụng chỗ sơ hở nầy, khoảng từ 10 giờ đến 11 giờ ngày 06–06-1986, một cô y tá đến trao cho Ngài một nắm thuốc. Ngài hỏi cô y tá : "Cô cho tôi uống thuốc ǵ vậy ?". Cô trả lời rất cộc cằn lỗ măng : "Nhiệm vụ của ông là phải uống những ǵ chúng tôi điều trị ông, không được hỏi lôi thôi ǵ cả". Ngài rất phân vân. Cuối cùng Ngài bằng ḷng uống. Uống xong, Ngài cảm thấy rất đau đớn. Ngài hỏi cô y tá : "Cô biết tôi mấy giờ nữa th́ chết không ?". Cô y tá bấy giờ mới hốt hoảng và run sợ trả lời :"Con lạy cụ, xin cụ tha lỗi cho con. Việc nầy là do cấp trên." Đức Tổng trả lời : "Không những tôi tha lỗi cho cô mà thôi, tôi c̣n tha thứ cho cả cấp trên sai cô làm, tôi tha thứ hết". Sau đó, thấy d́ Sáu vào, Ngài nói với D́ Sáu : "Chén đắng Chúa trao anh đă uống xong. Xin trọn theo ư Chúa". D́ Sáu báo cho cô y tá biết Ngài đau đớn lắm. Khoảng 12 giờ 30 trưa, cô y tá ấy trở lại cho Ngài uống một liều thuốc khác. Sau đó Ngài bị tiêu chảy liên tục cho đến chết, không cầm lại được. Các nhân chứng hiện nay đều c̣n sống, một số Nữ tu cần tạm dấu tên một thời gian.
Khoảng 13 giờ ngày 8-6-1988, Ngài bấm chuông gọi cấp cứu, nhưng không có ai đến cả. Vài phút sau, Ngài qua đời tại pḥng Ngài nằm điều trị bệnh, pḥng nầy nay đă thay đổi số (lúc đó, người thân không ai nhớ số pḥng), chỉ nhớ ở tầng lầu thứ 9, bệnh viện Chợ Rẫy, Sài G̣n, lúc ấy chỉ có D́ Sáu bên cạnh.
V́ vụ việc có nhiều ám muội, lúc Đức TGM Điền qua đời xong, môi miệng Ngài tím bầm, 2 tay cũng tím thẫm, nên có một nữ tu kín đáo theo dơi cô y tá đă cho Ngài uống thuốc, đă đi theo cô và nghe được câu nói rất quan trọng nầy của cô y tá khi cô gọi điện thoại cho cấp trên : "Vụ việc đă hoàn thành". Nữ tu ấy nay c̣n sống ở Huế.
V́ muốn đưa ra Huế, bệnh viện đă mổ bộ ruột của Ngài. Bộ ruột nát bầy nhầy khác thường. Một bác sĩ tên B́nh, bệnh viện Chợ Rẫy trao cho thân nhân, và đề nghị không nên đưa về nhà nữa. Lúc đó, các thân nhân quá đau ḷng, không ai c̣n b́nh tĩnh để nhận lănh cả. Bệnh viện đă đem chôn, nay chưa t́m ra dấu vết. Thật là đáng tiếc.
Sau đó, cô y tá ấy thanh minh rằng cô không biết Vị mà cô cho uống thuốc là ai, và cô đă xin lỗi thân nhân. Cô được gửi đi du học ngay tại Cộng Ḥa Dân Chủ Đức (Đông Đức) theo thời hạn là sẽ trở về Việt Nam tháng 3-1995. Không rơ nay đang ở đâu.
Xác Ngài được đưa về Ṭa TGM Sài G̣n.
Tin tức về cái chết của Ngài bị bưng bít. Tất cả các đường điện thoại gọi ra Huế đều bị cắt. Lúc bấy giờ chưa có FAX, chưa có E-mail. Nội bộ Giáo hội không ai có điện thoại di động. Và tất cả các điện tín khẩn gửi ra Huế đều không được trao, chỉ mang đến cho Ṭa TGM Huế cả một chồng dày sau khi đă an táng Ngài. Cho đến nỗi, Giáo phận Huế đă thành lập một phái đoàn vào Sài G̣n gồm tất cả các Linh mục Quản hạt để thăm viếng và tiễn đưa Đức Tổng đi Rôma. Đau đớn thay, khi phái đoàn ấy lên xe tại Huế sáng 09-8 để đi thăm Ngài th́ thực ra Ngài đă chết hôm trước rồi mà vẫn chưa biết ! Khi phái đoàn Gp Huế vào đến Ṭa TGM Sài G̣n, hỏi Đức Tổng Huế ở đâu ? Nhân viên chỉ 1 pḥng, Gp Huế tưởng Đức Tổng c̣n sống, không ngờ nhân viên chỉ pḥng đang quàn xác Ngài ! Các linh mục Gp Huế tại Huế chỉ biết tin nhờ Radio Veritas, Philippines. Sau đó mới tổ chức để đưa xác Ngài về Huế. Nhà Nước gây rất nhiều trở ngại để việc đưa xác Ngài về Huế bị chậm lại. Dầu vậy, giáo dân GP Huế quá thương tiếc Ngài đă đón tiếp xác Ngài rất trọng thể. Có công an kín đáo tháp tùng bám sát, có nhân viên quay phim của CSVN quay phim đầy đủ.
Xác Ngài được liệm trong ḥm bọc kẽm, phần mặt có lồng kính để thấy được mặt. Môi ngài tím bầm, mũi trương śnh bong bóng máu, làm cho giáo dân thắc mắc; mặc dù đă được điểm trang kỹ lưỡng, nhưng môi Ngài vẫn tím bầm. Đoàn xe tang chở thi hài Đức Tổng Giám mục về Toà Giám Mục Huế lúc 21 giờ 30, ngày 13 tháng 06, và sáng 14-06 được đưa lên an vị tại Nhà Thờ Chính Ṭa Phủ Cam để tín hữu và quan khách kính viếng Ngài suốt ngày đêm. Tối 14-06, v́ mặt Ngài biến dạng khác thường, nên ban tẩm liệm đă đậy nắp ḥm gỗ che mặt Ngài lại. Sáng 15-6, Thánh Lễ Đồng tế an táng trọng thể do Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn B́nh, TGM Sài G̣n chủ tế cùng với hầu hết các Đức Giám mục trong HĐGMVN và rất đông các linh mục các giáo phận của 3 giáo tỉnh và của giáo phận Huế. V́ số giáo hữu quá đông, nên măi đến tối15-06 mới hạ huyệt được, rồi ban tẩm liệm đă khoan 5 lỗ quanh ḥm kẽm để dễ phân hủy và an táng Ngài tại phía trái Cung Thánh Nhà Thờ Phủ Cam.
Linh mục Phaolô Nguyễn Kim Bính, Hạt trưởng Thành phố Huế, Chánh sở Nhà Thờ Chính Ṭa Phủ Cam trang hoàng mộ Ngài rất lộng lẫy như mộ một Vị Thánh Tử Đạo. Sau đó, phái đoàn Ṭa Thánh thăm Nhà Thờ Phủ Cam, thấy vậy có ư kiến rằng : không nên đi trước ư kiến của Ṭa Thánh, nên Lm Kim Bính đă trang hoàng đơn giản như hiện nay : phần mộ sát với nền Nhà Thờ, bên trên có một tấm đá cẩm thạch đen, có khắc vài ḍng về Ngài.
D́ Sáu, em ruột Ngài là Nữ tu Mến Thánh Giá Chợ Quán, 118 Trần B́nh Trọng, Q. 5, Sài G̣n. ĐT 08. 8350482. Nay ở Nhà Hưu dưỡng Ḍng MTG Chợ Quán, 30/1 ấp Truông Tre, xă Linh Xuân, Thủ Đức, Sài G̣n. ĐT 08. 8964116.
C̣n cô y tá đă cho Ngài uống thuốc là nhân viên cũ của NBS Dương Quỳnh Hoa, hôn thê của BS Trần Văn Thọ, 117 CM 1-11 cũ, nay là 1 cơ quan Nhà nước. Cô có làm việc cho BS Nguyễn Văn Thọ, 99 Vơ Tánh, gần cổng xe lửa số 6, đối diện với Nhà thờ Cơ Đốc Phục Lâm. Cô có 1 người bạn công giáo, đă trọ học ở 40/5 Ngô Tùng Châu, Gia Định, đối diện với pḥng mạch bác sĩ Hoàng Văn Đức, khoa trưởng Y khoa Minh Đức. Lm Đỗ Quang Biên, dạy trường Trí Đức do Lm Nguyễn Văn Ngà làm hiệu trưởng, Lm Nguyễn Văn Ḥa (nay là GM Nha Trang và đă được bổ nhiệm TGM Phó Hà Nội) làm hiệu phó, biết anh nầy, anh hiện ở Đà Lạt.
4. Kết luận :
Liều thuốc Ngài bị buộc uống sáng 6-6 là liều thuốc độc. Liều thuốc Ngài bị uống sau trưa ngày 6-6 là liều thuốc xổ để giúp tẩy bớt các dấu vết chất độc trong ruột, tạo nên cơn tiêu chảy cho đến ngày 8-6 mà bệnh viện cố t́nh không cho cầm lại, mặc dù Chợ Rẫy là một bệnh viện lớn nhất nh́ ở Sài G̣n. Bộ ruột nát bầy nhầy khác thường ; miệng Ngài tím bầm, hai bàn tay Ngài cũng bị bầm tím, 2 hốc mắt trái và phải đều bị tím bầm và có 2 bong bóng máu đen sẫm rất lớn tại 2 lỗ mũi, vỡ rồi lại hiện, làm gương mặt Ngài biến dị khác thường, khiến tối 14-6 một giáo hữu trong ban tẩm liệm (nay c̣n sống, nhưng tạm dấu tên) phải xin Lm Nguyễn Kim Bính cho phép đậy nắp ḥm gỗ bên ngoài ḥm kẽm, không để khách đến viếng thấy mặt Ngài nữa, v́ quá đau ḷng và khó nh́n. Kèm theo những diễn biến chung quanh việc Ngài bị buộc uống thuốc sáng 06-06 nói trên, các điều nầy không phải là những bằng chứng Ngài đă thực sự bị ngộ độc sao ?
Sau đám tang Đức TGM Điền, Công an tỉnh B́nh Trị Thiên đến tận trại giam B́nh Điền, Thừa Thiên, gặp Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải nguyên một buổi sáng, kể lại cái chết và đám tang Ngài, thanh minh về việc CSVN không hề đầu độc Ngài và dặn : "Khi được tự do, anh đừng có tin lời đồn ấy". Sau đó, Cán bộ Giáo dục trại giam lại gặp Lm Giải thêm một buổi thanh minh rằng Đức TGM Điền không hề bị trúng độc, khuyên nên biết giải thích lại cho dân. Năm 1989, khi thả Lm Giải ra khỏi tù, CSVN lại nói với Lm Giải rằng : "CQ không đầu độc TGM Điền". Tại sao CSVN lại phải mất công thanh minh nhiều lần vất vả như thế và tại sao lại tự buột miệng phải thanh minh một điều không ai chất vấn cả ?
Trong Tuyên ngôn 24-11-1994, tôi ghi rơ : "Đức TGM Điền đă khổ v́ đạo và đă chết v́ đạo", mà CSVN trong suốt 5 tuần làm việc liên tiếp, không hề dám đả động ǵ đến chuyện ấy. V́ sự thực là thế.
Chắc chắn một điều, kể cả cho dù chưa đưa ra bằng chứng khoa học 100 % Ngài đă bị cho uống thuốc độc đi nữa, v́ một đàng bộ ruột Ngài chưa t́m được, một đàng việc khai quật mộ Đức Cố TGM Điền lên là điều chưa thật sự cần thiết phải làm trong lúc nầy, th́ việc Ngài suốt 13 năm liên tiếp chịu khổ v́ Giáo hội từ 1975 đến khi chết (1988), cũng đủ cho mọi người thành tâm ngay thẳng xác nhận Ngài ĐĂ CHẾT V̀ ĐẠO rồi.
Ngày 26.12.2000, Lễ Thánh Têphanô Tử Đạo tiên khởi, tôi nằm sấp trên mộ Ngài, khóc rất nhiều và cầu nguyện thiết tha khá lâu giờ, xin Ngài phù trợ cho công việc đấu tranh tự do tôn giáo của một nhóm linh mục Huế và tôi được thành công theo ư Chúa. Tôi xin Ngài cầu bàu cùng Chúa cho tôi một dấu chỉ từ trời trong ngày hôm đó. Và tôi đă được nhận lời mau lẹ ngay sáng hôm đó.
Hiện nay, hằng ngày vẫn có giáo hữu thường xuyên đến kính viếng, quỳ cầu nguyện trước mộ Ngài. Đối với đa số Tín hữu Gp Huế, Đức cố TGM Điền là một Vị Thánh Tử Đạo. Trong Sổ Tang của Đức Cố TGM tại Nhà Xứ Nhà Thờ Chính Ṭa Phủ Cam, rất nhiều người viết những câu rất ư nghĩa. Đặc biệt là ngay khi ra khỏi tù, trước khi thăm viếng bất cứ ai, trước hết, Lm Nguyễn Hữu Giải đă đến kính viếng mộ Đức TGM, và ghi vào Sổ Tang nầy : "Xin Chúa cho chúng con được duy tŕ măi phong cách Philipphê Nguyễn Kim Điền".
Điều cuối cùng, chúng tôi muốn xin lưu ư Quư Vị: trong hàng ngũ giám mục và linh mục Việt Nam thuộc thế kỷ 20 c̣n nhiều cái chết bí ẩn, chẳng hạn cái chết của Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi (1909-1988), Giám mục chính giáo phận Đà Nẵng; Đức Cha Giuse Phan Văn Hoa (1922-1987), Giám mục phó giáo phận Quy Nhơn; cha Anrê Bùi Quang Tịch (1895-1977), tu sĩ ḍng Phước Sơn; cha G.B. Nguyễn Phúc Bửu Đồng (1912-1969), quản xứ An Truyền (và c̣n rất nhiều vị khác chúng tôi không được biết)... Chúng ta, đặc biệt là những ai thân cận và hiểu rơ các ngài, hăy một lần tỏ ra can đảm tường thuật lại cuộc sống và cái chết của các ngài để tôn vinh các vị tử đạo mới này của Giáo Hội Việt Nam thế kỷ 20.

muïc luïc

Lịch sử Phong trào Đại kết

BAO CẢNH XÂU XÉ

Nếu Kitô giáo đă không ngừng bị xáo trộn từ nguyên thủy bởi nhiều tranh chấp phản kháng (thường mang tính chất giáo thuyết), gây nên lắm ly khai và đoạn tuyệt, th́ người ta có thể nói rằng: từ đầu thế kỷ 20, một chuyển động trái ngược đă xảy ra.
Cùng với Giáo Hội Công giáo, nay bao gồm 55-60% kitô hữu toàn thế giới, ba đại gia đ́nh Giáo hội khác hiện làm nên đạo Kitô:
· Các Giáo hội tiền Canxêđônia (Eglises préchalcédoniennes) hay c̣n gọi là các Giáo hội Nhất tính (monophysites), tách khỏi thân ḿnh chung năm 451 khi Công đồng Canxêđônia định tín Đức Kitô như tham dự thần tính và nhân tính đồng thời, trong khi các Giáo hội này công nhận Người chỉ có thần tính thôi. Đây là Giáo hội Cốp (Copte) ở Êthiôpia và Ai cập, Giáo hội Ácmêni, Giáo hội Syri-Giacôbít;
· Các Giáo hội Chính thống, tách khỏi Rôma trong cuộc Đại ly giáo Đông phương năm 1054 v́ nhiều lư do. Bị trầm trọng thêm bởi những khác biệt về văn hóa, năo trạng, truyền thống, các lư do này thực ra là v́ từ chối ưu thế của Rôma hơn là v́ những bất đồng giáo lư cơ bản.
· Các Giáo hội Cải cách, tách khỏi Rôma thế kỷ 16 nhân cuộc khủng hoảng gây nên bởi t́nh trạng của Giáo Hội đương thời; cuộc khủng hoảng này lập tức mang một tính chất giáo lư rất cơ bản, dẫu khác nhau từ khuynh hướng này sang khuynh hướng khác. Từ cuộc Cải cách này phát sinh ba nhánh rất đặc trưng: Luthêrô giáo, Calvinô giáo và Anh giáo. Nhưng rồi chính các nguyên lư của đức tin Tin lành đă góp phần làm nẩy nở rất nhiều trào lưu, các trào lưu này lại khai sinh rất nhiều Giáo hội: Trưởng tẩy (Baptistes), Ngũ tuần (Pentecôtistes), Huynh đệ (Quakers), Giám lư (Méthodistes)...
NHỮNG CỐ GẮNG XÍCH LẠI GẦN NHAU GIỮA ĐÔNG VÀ TÂY
Giáo hội Công giáo sẽ chẳng bao giờ mất hy vọng tái lập hiệp nhất với các Giáo hội đông phương ly khai (Tiền-canxêđônia và Chính thống), v́ những khác biệt giáo lư với các Giáo hội này nói chung không sâu đậm bằng với các Giáo hội Cải cách (ngoại trừ Anh giáo). Và thực tế, trong nhiều giai đoạn lịch sử, lắm cố gắng giao hảo đă được thực hiện giữa Constantinople và Rôma, nhưng luôn thất bại. Ngược lại, nhiều phần khác nhau trong các Giáo hội đông phương đă lần lượt trở về với Giáo hội Rôma đồng thời vẫn giữ các truyền thống, phụng vụ và kỷ luật của họ (linh mục kết hôn chẳng hạn); họ làm thành nhóm mà người ta gọi là các Giáo hội Quy nhất (Eglises uniates: Slaves hiệp nhất, Hy lạp và Menkít công giáo, Canđê công giáo, Cốp công giáo, Ácmêni công giáo, Syri-giacôbít công giáo v.v...). Những cuộc trở về này, phần nhiều là thiểu số so với các Giáo hội họ từ đó phát xuất, thường góp phần làm cứng rắn bầu khí các quan hệ giữa những Giáo hội này với Rôma. Tuy nhiên, ngoài những đóng góp phong phú về mặt tu đức và thần học cho Giáo hội Rôma, các Giáo hội Đông phương hiệp nhất đă không ngừng là một nhân tố kích thích đối thoại v́ cổ vũ giữa ḷng các Giáo hội Tây phương sự hiểu biết và kính trọng toàn thể Kitô giáo đông phương.
SÁNG KIẾN CỦA PHONG TRÀO CẢI CÁCH
Dẫu có những cuộc trở về nói trên cũng như nhiều cố gắng đối thoại giữa tín hữu Công giáo và Tin lành, thậm chí trong các biến cố của cuộc Cải cách hoặc từ sau đó (ví dụ giữa triết gia Leibniz và giám mục Bossuet thế kỷ 17), t́nh trạng chia rẽ xem ra kẹt cứng măi măi. Phần lớn các kitô hữu cam chịu điều này, dẫu rất lấy làm tiếc. Cuối cùng, người ta nhạy cảm với hố sâu các bất đồng và với các vết thương đă nhận hơn là với gốc chung từ nguyên thủy và với đức tin vào cùng một Chúa Kitô. Rốt cục, mỗi Giáo hội chỉ quan niệm việc kết hợp dưới h́nh thức là: cá nhân hay tập thể ly khai phải trở về với các quan điểm riêng của Giáo hội ḿnh.
Thành thử đă phải có nhiều thời gian và nhiều thất vọng để xác tín rằng sự hiệp nhất đ̣i hỏi một điều hoàn toàn khác: ngoài việc từ bỏ những trách móc chính đáng và những thành kiến do nóng nảy, cần dấn thân nghiên cứu nhằm cùng đào sâu Chân lư mạc khải cho tới khi t́m được những nền tảng chung của một đức tin vượt quá các điểm bất đồng.
Chính từ Tin lành giáo phát xuất Phong trào Đại kết đầu thế kỷ 20. Nhiều tổ chức liên phái Cải cách đă mở ra con đường này rồi (Liên minh Tin lành năm 1846, Liên hiệp hoàn vũ các Hội Nghiên cứu Kitô giáo năm 1895). Nhưng tác động quyết định là sự phát triển các cuộc truyền giáo tại châu Phi lẫn châu Á cũng như gương xấu gây ra do việc phúc âm hóa gặp chướng ngại v́ kitô hữu chia rẽ. Do đó có một Hội nghị thế giới các hội Truyền giáo Tin lành tại Edimbourg (Anh quốc) năm 1910; nó được xem như khởi điểm đích thực của Phong trào Đại kết.
Hội nghị Edimbourg dẫn đến việc thành lập Hội đồng quốc tế các Hội Truyền giáo năm 1921; hoạt động đại kết của Hội đồng này được tiếp nối bởi hai trào lưu khác: Kitô giáo thực hành (họp mặt đầu tiên tại Stockholm Thụy Điển năm 1925), Đức tin và Thể chế (họp mặt đầu tiên tại Lausanne Thụy Sĩ năm 1927). Tất cả dẫn tới một cuộc gặp gỡ trù bị tại Utrecht Ḥa Lan năm 1938, nhưng v́ chiến tranh, các phần việc kế tiếp bị tê liệt, nên cuối cùng dẫn tới việc thành lập Hội đồng Đại kết các Giáo hội (C.O.E.= Conseil Oecuménique des Eglises), mà hội nghị đầu tiên nhóm họp tại Amsterdam Ḥa Lan năm 1948. Tổng thư kư tiên khởi của hội đồng này là mục sư Visser’t Hoof người Ḥa Lan, một trong những nhà tiền phong cho vấn đề đại kết. Ban đầu Hội đồng gồm có 147 Giáo hội; nay th́ hơn 300 thành viên. Tại Đại hội New Delhi ở Ấn Độ năm 1961 (có sự hiện diện của hầu hết các Giáo hội ngoài Rôma, và có sự tham dự lần đầu tiên của các quan sát viên Công giáo được Ṭa thánh phái tới), Hội đồng Đại kết các Giáo hội tự định nghĩa như "một cộng đoàn huynh đệ các Giáo hội tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa và Cứu Thế theo Thánh Kinh, đồng thời cùng nhau nỗ lực đáp trả ơn gọi chung v́ vinh quang Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần". V́ thế, Hội đồng từ chối đóng vai tṛ một quyền lực hoàn vũ xác định các dữ kiện của đức tin và cuộc sống Kitô giáo.
PHONG TRÀO ĐẠI KẾT CÔNG GIÁO
Chính từ triều Đức Gioan 23 (1958-1963) mà Giáo hội Công giáo mới chính thức bày tỏ lập trường ủng hộ Phong trào Đại kết. Cho đến lúc ấy, Rôma vẫn luôn biểu lộ ngập ngừng và ngờ vực. Nhưng cũng lúc ấy, lắm nhà tiền phong đă mở đường rồi. Chẳng hạn đó là cha Portal, người đă cộng tác với một tín hữu Anh giáo là Huân tước Halifax tổ chức nhiều cuộc đàm thoại ở Malines Bỉ (1921-1925) giữa người Công giáo và Anh giáo dưới sự chủ tọa của Đức Hồng y Mercier. Đó là cha Lambert Bauduin, ḍng Biển Đức người Bỉ, với việc thành lập đan viện Hiệp nhất ở Chevetogne (1925); là cha Dumont, ḍng Đa Minh người Pháp, với việc thành lập Trung tâm Istina tại Paris (1926) và hai trung tâm nhỏ chuyên tiếp xúc với các Giáo hội Đông phương nhưng đă nhanh chóng mở ra cho toàn thể Phong trào Đại kết. Đó cũng c̣n là cha Couturier với sáng kiến cầu nguyện cho hiệp nhất (1933) và với hoạt động thúc đẩy thành lập Tuần cầu nguyện cho sự Hiệp nhất kitô hữu (1935), hiện được cử hành bởi kitô hữu toàn thế giới; ngài cũng đă thành lập Nhóm Dombes cùng với cha Villain. Từ lịch sử gần đây, nổi lên hai tên tuổi lớn: đó là cha Congar, ḍng Tên người Pháp; cuốn sách Các kitô hữu chia rẽ (Chrétiens désunis) của cha, phát hành năm 1937, là biểu thức đầu tiên về một nền thần học đại kết Công giáo và đă tạo một ảnh hưởng sâu xa, để lại dư âm quan trọng trên Công đồng; và cha Willebrands, linh mục Ḥa Lan (sau là hồng y), người đă tổ chức Hội nghị công giáo quốc tế về các vấn đề đại kết, nhóm thần học gia không chính thức chuyên tiếp xúc với các văn pḥng nghiên cứu của Hội đồng Đại kết các Giáo hội.
Nhưng biến cố căn bản hiển nhiên là sự kiện năm 1960, Đức Giáo Hoàng Gioan 23, được bầu lên từ 18 tháng trước, lập một Văn pḥng hiệp nhất kitô hữu có nhiệm vụ liên lạc đại kết với các Giáo hội ngoài Rôma. Được giao cho hai nhân vật lỗi lạc là Hồng y Béa như chủ tịch và Giám mục Willebrands như thư kư, Văn pḥng này sẽ đóng một vai tṛ hàng đầu trong các công việc của công đồng Vatican II (1962-1965). Năm 1961, lần đầu tiên, Giáo Hội Công giáo được nhiều quan sát viên chính thức đại diện tại Đại hội của Hội đồng Đại kết các Giáo hội nhóm tại New Delhi.
C̣n Công đồng Vatican II, được Đức Gioan 23 quan niệm như một phương tiện canh tân Giáo Hội nhằm góp phần hiệp nhất các kitô hữu, trong thực tế đă rộng mở cho viễn tượng này. Được như thế là nhờ sự hiện diện đầy cộng tác của nhiều quan sát viên không Công giáo (đại diện của Hội đồng Đại kết các Giáo hội hay của nhiều Giáo hội ngoài Rôma), cũng như nhờ tinh thần của các công việc và các văn bản Công đồng. Sắc lệnh Unitatis Redintegratio về vấn đề đại kết (1964) chắc hẳn là quan trọng nhất về mặt này; nhưng các hiến chế về Giáo Hội (Lumen Gentium), về Mạc khải, về Phụng vụ, các tuyên ngôn về tự do tôn giáo và về các tôn giáo phi-Kitô, dẫu chẳng hề làm đức tin công giáo biến đổi, hết thảy vẫn có khả năng cổ vũ cuộc đối thoại đại kết và đă được đón nhận như thế bởi nhiều giáo phái anh em.
Đức Phaolô 6, được bầu làm giáo hoàng giữa thời Công đồng (1963), đă cương quyết dấn thân vào con đường Đức Gioan 23 đă mở. Cuộc gặp gỡ lịch sử của ngài tại Giêrusalem với Đức Athénagoras, Thượng phụ đại kết thành Constantinople (1964), việc ngài viếng thăm chính Đức Athénagoras tại Constantinople (1967) rồi viếng thăm Hội đồng Đại kết các Giáo Hội tại Genève (1969), các lời lẽ hối tiếc của ngài về trách nhiệm của Giáo Hội trong các chia rẽ quá khứ là những chứng từ gây ấn tượng nhất. Nhưng việc thiết lập, từ năm 1965, một nhóm công tác hỗn hợp bao gồm nhiều đại diện của Văn pḥng hiệp nhất và của Hội đồng Đại kết các Giáo hội, việc thiết lập một Ban phụ trách xă hội, phát triển và ḥa b́nh (Sodepax) được Ủy ban Công lư Ḥa b́nh giáo hoàng và Hội đồng Đại kết Tin lành chỉ định, đă giúp đưa cuộc đối thoại đi vào chiều sâu. Chẳng mấy chốc, nhiều tín hữu Công giáo cũng tham dự Ủy ban Đức tin và Hiến chế của Hội đồng Đại kết.
Không ngập ngừng, Đức Gioan-Phaolô 2 đă theo gót các đấng tiền nhiệm; việc ngài viếng thăm Giáo trưởng Anh giáo tại Cantorbéry (1982), tiếp xúc cá nhân với các thủ lănh của nhiều Giáo hội đều nằm trong đường hướng này.
C̣n các cơ quan, thường trực hay bất thường trực, lo về đối thoại giữa Công giáo và không Công giáo, th́ được gia tăng ở mức độ quốc gia và quốc tế. Dẫu sao, Giáo Hội Công giáo vẫn không biểu lộ ư hướng trở nên thành viên của Hội đồng Đại kết các Giáo hội; về phần ḿnh, Hội đồng này cũng ư thức được những vấn đề khó khăn đặt ra do một sự hiện diện như thế, xét v́ Công giáo có dân số lớn (60% các kitô hữu) và có cơ cấu chặt chẽ. Nhưng điều chủ yếu nằm trong ư chí chung là tiến đến ḥa giải và hướng về một sự hiệp nhất mà không ai có thể tiên đoán được các h́nh thái lẫn kỳ hạn lúc nào.
MỘT NỖ LỰC ĐƯỢC CHIA SẺ
Ngoài ra, phải ghi nhận rằng cả một nỗ lực xích lại gần nhau đă được thực hiện giữa các Giáo hội không Công giáo. Chẳng hạn trong khoảng 30 nước, nhiều cuộc kết hợp đă được thực hiện hay đang điều đ́nh (đặc biệt tại Ấn Độ, Sri Lanka, Pakistan giữa Anh giáo và Giám lư Anh v.v...). Về phần ḿnh, các Giáo hội Chính thống, bắt đầu từ năm 1961, cũng đă tổ chức nhiều hội nghị liên chính thống, không phải để hợp nhất, v́ các Giáo Hội này vẫn gắn bó với truyền thống "độc lập", nhưng để thắt chặt các liên lạc thần học và tu đức; một công đồng liên Chính thống đang được chuẩn bị. Sau hết, nhiều liên minh giáo phái toàn cầu (giữa phái Luthêrô, Trưởng tẩy, Giám lư v.v...) góp phần hữu hiệu vào việc giúp ư tưởng hiệp nhất tiến triển; Hội nghị Anh giáo tại Lambeth (Luân Đôn), quy tụ mọi Giáo hội Anh giáo quốc gia dưới quyền chủ tọa của tổng giám mục Cantorbéry, Giáo trưởng Giáo hội nước Anh và Liên hiệp Anh giáo, là ví dụ nổi tiếng nhất. Ngoài ra, từ năm 1962, các đại liên minh giáo phái thế giới gặp gỡ nhau thường xuyên.
NHỮNG SỰ KIỆN ĐẠI KẾT GẦN ĐÂY
Gần đây, trong thập niên 90, có các biến cố đại kết như sau: Đức Gioan Phaolô II đă nhận được sự viếng thăm của Đức Tổng Giám Mục George Carey, đứng đầu liên hiệp Anh giáo, ngày 3-6/12/1996, của Đức Thượng Phụ Karekin I Sarkissian của Giáo hội Ácmêni ngày 13/12/1996. Cũng cuối năm này, các thành viên nhóm Dombes đă soạn thảo xong tài liệu nhan đề "Đức Maria trong chương tŕnh Thiên Chúa và trong mầu nhiệm các thánh thông công" (Documentation Catholique 2165, 8/97). Một nhóm thần học gia Công giáo và Chính thống họp nhau tại Chevetogne (Bỉ) đầu tháng 1/1997 để đưa ra lời kêu gọi đối thoại giữa hai Giáo hội. Đến cuối năm, Liên hiệp Luthêrô thế giới và Giáo Hội Công giáo Rôma (tại Đức) đưa ra một tuyên ngôn chung nhan đề "Giáo lư về ơn công chính hóa", một trong những điểm tranh luận giữa hai bên trong nhiều thế kỷ (DC 2168, 10/97).
Năm 1998, Đức Gioan-Phaolô II đă có cuộc gặp gỡ với Ủy ban liên hợp của các Hội đồng GM Âu châu (CEEE) và của Hội đồng các GH Âu châu (KEK) ngày 20/2 (DC 2178, 3/98). Hội đồng giáo hoàng Hiệp nhất kitô hữu ra văn kiện về chiều kích đại kết trong việc huấn luyện những người làm việc mục vụ (DC 2182, 5/98). Một cuộc gặp gỡ liên Chính thống đă ra Tuyên ngôn chung kết tại Thessalonique, Hy lạp (DC 2184, 6/98). ĐHY Edward Cassidy tŕnh bày lập trường Công giáo về ơn công chính hóa (DC 2187, 8/98). Đức Gioan-Phaolô II kêu mời các Thượng phụ các Giáo hội Công giáo Đông phương giúp ngài suy tư về thừa tác vụ hiệp nhất (DC 2192, 11/98).
Năm 1999 mở ra với cuộc gặp gỡ giữa các lănh đạo của hai Giáo hội Chính thống và Hy lạp công giáo tại Rumani ngày 28/1. Tiếp đó, Đức Gioan-Phaolô gặp gỡ Thượng phụ Chính thống Rumani Théoctiste tại Bucarest ngày 9/5, gặp gỡ Thượng phụ Chính thống Ilia 2 tại Géorgie ngày 8/11, gởi sứ điệp cho Thượng phụ Bartholomeos I nhân ngày lễ thánh Anrê (DC 2216 12/99). Tháng 8, CEEE và KEK cùng đưa ra dự thảo Hiến chương đại kết (DC 2211, 10/99). Đến cuối năm, 12-14/11, cộng đồng thánh Egidio đă tổ chức tại Gênes một cuộc gặp gỡ đại kết quy tụ nhiều vị lănh đạo của thế giới Kitô giáo (DC 2216, 12/99).
Mở đầu Năm Thánh, ngày 4/12/1999, các đại diện của 13 Giáo hội Kitô Thánh địa đă họp nhau tại Bêlem và Đức Gioan Phaolô II có gởi tới một sứ điệp chào mừng (DC 2217, 1/2000). Đầu tháng 3, Ủy ban thần học quốc tế lại ra tài liệu "Kư ức và ḥa giải" trong đó nhắc lại những lỗi lầm của Giáo Hội Công giáo, đặc biệt đối với các tôn giáo. Nhân cuộc viếng thăm Thánh địa cũng trong tháng này, Đức Giáo hoàng đă gặp gỡ Thượng phụ Hy lạp Chính thống Giêrusalem là S.B. Diodoros (DC 2224, 4/2000). Đến ngày 9/11, ngài lại tiếp kiến Đức Thượng phụ Karékine II người Ácmêni tại Vatican (DC 2238, 12/2000). Hai vị đă ra thông cáo chung về các điểm đức tin chung giữa Giáo hội Ácmêni và Giáo hội Công giáo. Trước đó, vào tháng 8, bộ Giáo lư đức tin đă ra Tuyên ngôn quan trọng "Chúa Giêsu" tái xác định quan niệm hiệp nhất đại kết của Công giáo. Cũng trong năm rồi, các phái Kitô giáo đă có nhiều cuộc gặp gỡ nhau và đă ra nhiều tuyên ngôn nhằm cố gắng tiến tới đại kết.
Mới đây nhất, trong Tông thư "Khởi đầu thiên niên kỷ mới" ban hành ngày 6/1, ở số 12, Đức Gioan Phaolô lại nói tới vấn đề đại kết. Ngài đă nhắc tới những biến cố đại kết trong Năm thánh, như ngày 18/1, tại Vương cung Thánh đường Thánh Phaolô, Đấng kế vị thánh Phêrô, Giáo trưởng Anh giáo, Thượng phụ thành Constantinople đă cùng nhau mở Cửa Thánh trước sự hiện diện của đại diện nhiều Giáo hội và Cộng đoàn giáo hội từ khắp hoàn vũ.


Linh mục Phan văn Lợi
tổng hợp Théo, Nouvelle Encyclopédie Catholique và Documentation Catholique.

mục lục

Đạo hiếu hay Thần học Tam Phụ

Tết hay ngày đầu năm là dịp để người châu Á nói chung, và người Việt Nam nói riêng nhớ đến tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thầy cô, các thân nhân, ân nhân và bạn bè của ḿnh. Có thể nói đó là những ngày đặc biệt để mọi người tỏ ḷng hiếu thảo và biết ơn của ḿnh đối với những người vừa kể trên. Đó là một truyền thống hết sức tốt đẹp của nền văn hóa Đông phương nói chung và của Việt Nam nói riêng. Chính truyền thống này đă làm cho xă hội Á Châu và Việt Nam có một nền nếp gia phong tốt đẹp, một nền luân lư truyền thống dựa trên t́nh nghĩa, ḷng biết ơn, ḷng tôn sư trọng đạo, là những giá trị hết sức quí giá của văn hóa Đông phương.
Tuy nhiên, đối với người Kitô hữu, ngày tết cũng là ngày đặc biệt để thờ phượng và tỏ ḷng hiếu thảo đối với Thiên Chúa, mà họ quan niệm là cha mẹ chung của cả vũ trụ, cả thế giới. Người Kitô hữu chủ trương phải hiếu thảo với cả bậc cha mẹ cao cấp này nữa. Ư niệm coi Thiên Chúa là cha mẹ đă được các bậc tổ tiên của người Kitô hữu Việt Nam ta xưa nghiền ngẫm và đưa ra thành một ư niệm thần học: Thần học Tam Phụ. Đó là một ư niệm thần học rất đặc biệt của người Kitô hữu Việt Nam xưa. Đó cũng là một cách hội nhập văn hóa sứ điệp Ki-tô giáo, đưa quan niệm Thiên Chúa là Cha vào tâm trí người Việt vốn luôn luôn đặt nặng vấn đề hiếu thảo đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Và đó cũng là ư niệm thần học mà người Kitô hữu Việt Nam có thể tự hào là của ḿnh, để đóng góp vào nền thần học Giáo Hội nói chung, và nền thần học Á Châu nói riêng.
V́ thế, nhân dịp đầu năm, chúng ta thử cùng nhau t́m hiểu và suy nghĩ về ư niệm thần học này.
Thần học Tam phụ
Khi rao giảng Tin Mừng cho người Việt Nam, nhiều nhà truyền giáo nhận xét: Tại Việt Nam, một thuận lợi rất lớn cho công việc truyền giáo, đó là tinh thần đạo hiếu. Thật vậy, nhờ ảnh hưởng của đạo Nho, người Việt Nam đặt rất nặng việc Trung Quân, Hiếu Phụ Mẫu (trung thành với vua, hiếu thảo với cha mẹ)(). Nơi người Việt Nam, việc hiếu thảo với cha mẹ đă được thể hiện thành một tôn giáo gọi là «Đạo thờ Tổ Tiên» hay nói nôm na là «Đạo Ông Bà» (). Những người theo đạo này thường tự gọi tôn giáo của ḿnh là «Đạo làm người». Điều đó hàm ư rằng muốn làm «người cho ra người» th́ phải biết «thờ cha kính mẹ», nghĩa là phải có «Đạo Hiếu».
Lợi dụng tinh thần trung và hiếu đó, Cha Đắc-Lộ đưa ra ư niệm thần học về Tam Phụ để giới thiệu thêm cho người Việt Nam một người cha mà họ lăng quên hay không biết tới, đó là Cha trên trời, Đấng sinh thành ra tất cả vũ trụ vạn vật, mà Đức Giêsu Kitô dạy ta gọi Ngài là Cha.
Trong cuốn Phép Giảng Tám Ngày, Cha Đắc-Lộ viết: «Bây giờ, ta phải hay có ba đấng bề trên là ba cha, ta phải thờ ở đấng nào cho nên đấng ấy. Đấng dưới là cha mẹ sinh ra thân xác cho ta, đấng giữa là vua chúa trị nước, đấng trên là đức Chúa trời đất, làm chúa thật trên hết mọi sự. Có ba đấng này ta mới được sống được ở».
Thật ra, do ảnh hưởng đạo Nho, ngoài việc coi trọng «Đạo Hiếu», người Việt Nam cũng biết thờ Trời. Nhưng ngày xưa, nghi lễ thờ Trời chính thức dành cho «Thiên Tử» (Con Trời), tức nhà vua. Việc thờ Trời của người dân chỉ được biểu hiện đơn sơ qua việc cắm nhang, cúng gạo, muối và nước ở «Bàn Thiên» (tức bàn thờ Thiên) dựng trước cửa chính trong sân mỗi nhà. Lễ tế Trời của vua gọi là «Tế Nam Giao». Vua có bổn phận đối với Trời, c̣n dân có bổn phận đối với vua. Bổn phận của người dân đối với vua là một ḷng một dạ trung thành, cho dẫu có phải hy sinh đến tính mạng.
Thể theo việc thờ Trời và ḷng «Trung Hiếu» của dân Việt, các cha ông ta xưa đă đưa ra ư niệm thần học về Tam Phụ – là Ba (3) Cha – để thống nhất ba chiều kích trên của tinh thần người Việt Nam, đồng thời để giúp người dân ư thức hơn về t́nh yêu của Trời đối với ḿnh và bổn phận đáp lại t́nh yêu thương ấy đối với Trời. Đây là một nỗ lực thích ứng và hội nhập văn hóa của người công giáo Việt Nam. Tam phụ đó là:
1. Thượng phụ: là «Cha ở trên», tức Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên vũ trụ vạn vật, là Cha chung của muôn loài vạn vật. Ḷng hiếu thảo mà mọi người phải có đối với Ngài được biểu hiện qua sự tôn thờ.
2. Trung phụ: là «Cha ở giữa», tức là vua của nước, là người «thay Trời trị dân», là «Phụ mẫu chi dân», tức cha chung của mọi người dân trong nước. Ḷng hiếu thảo mà mọi người phải có đối với ngài được biểu hiện qua sự tôn kính.
3. Hạ phụ: là «Cha ở dưới», tức là cha mẹ sinh ra mỗi người. Ḷng hiếu thảo mà mọi người phải có đối với các ngài được biểu hiện qua sự thảo kính.
Thần học Tam Phụ có từ thời Alexandre de Rhodes đến Việt Nam (giữa thế kỷ 17) tức từ thời nhà Lê, và tồn tại đến thời của Nguyễn Trường Tộ và Đặng Đức Tuấn (thế kỷ 19). Về sau, v́ chế độ quân chủ không c̣n nữa, nên Trung Phụ trở nên mất ư nghĩa, do đó thần học Tam Phụ bị mất đi một «Phụ», không c̣n hợp thời nữa. Tuy nhiên, ngày nay, trong tinh thần Giáo Hội học, chúng ta có thể hiểu Trung Phụ là Giáo Hội. Giáo Hội đă được Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII gọi là «Mẹ và Thầy», và chúng ta vẫn thường nói «Mẹ Giáo Hội». Vậy Giáo Hội là Mẹ của chúng ta, mà cụ thể là Đức Thánh Cha, các Đức Giám Mục, các linh mục. Đó là cha mẹ ở dưới thế sinh thành và nuôi dưỡng chúng ta về mặt tâm linh. Vậy, Giáo Hội là Trung PhuÏ mà chúng ta có bổn phận phải hiếu thảo.
Đối với những người Kitô hữu yêu nước, th́ song song với Mẹ Giáo Hội, chúng ta cũng có Mẹ Tổ Quốc, hay Mẹ Việt Nam, mà chúng ta vẫn thường nghe nói đến trong các bài ca, bài thơ, hay bài văn. Thật vậy, Tổ Quốc Việt Nam đích thực là người mẹ đầy dịu dàng, yêu thương, và cũng là người mẹ đầy đau khổ nhưng rất can trường và anh dũng, mà chúng ta có bổn phận phải yêu thương và hiếu thảo.
Thay vua bằng Giáo Hội và Tổ Quốc vào chỗ Trung Phụ, như vậy, đúng ra ta có Tứ Phụ chứ không phải Tam Phụ. Nhưng Giáo Hội và Tổ Quốc đều là một tập thể xă hội lớn, có nhiều tính chất chung, nên ta có thể xếp chung làm một là Trung Phụ.
Một trong những điểm quan trọng của thần học Tam Phụ là nó nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa chính là Cha Mẹ đúng nghĩa nhất của ta, và chúng ta phải đối xử với Ngài bằng tâm t́nh hiếu thảo của những người con. Thật vậy, xét cho cùng, Thiên Chúa mới là người sinh ra chúng ta, c̣n cha mẹ ruột thịt là người cộng tác với Ngài trong việc sinh ra chúng ta phần xác, và Giáo Hội là người cộng tác với Ngài trong việc sinh ra chúng ta phần hồn. Và Ngài yêu thương chúng ta c̣n hơn cha mẹ ruột thịt của chúng ta muôn vàn lần, đến nỗi t́nh yêu của cha mẹ ruột chỉ là h́nh ảnh t́nh yêu của Cha trên Trời. Hăy ngẫm nghĩ mà xem, có Thiên Chúa là cha mẹ, nghĩa là được làm con cái Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương, c̣n ǵ hạnh phúc bằng?
Hiếu thảo với Cha trên trời và với cha mẹ dưới đất
Chúa Giêsu tóm lại toàn bộ lề luật trong hai điều:
· «Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết ḷng, hết linh hồn, hết trí khôn ngươi» (Đnl 6, 4-5). Đó là bổn phận của con người đối Thiên Chúa, là ḷng hiếu thảo mà con người phải có đối với Cha chung trên trời, tức Thượng Phụ. Trong bản mười giới răn, điều luật này được diễn tả thành ba giới răn đầu, từ thứ nhất đến thứ ba.
· «Ngươi phải yêu người thân cận như chính ḿnh» (Lv 19, 18). Đó là bổn phận của con người đối với tha nhân. Trong bản mười giới răn, điều này được diễn tả thành bảy giới răn sau, từ thứ tư đến thứ mười. Người thân cận ở đây là tất cả những người chung quanh ta, những người mà ta gặp trong cuộc đời, bất kể tốt xấu, giàu nghèo, sang hèn, tuy nhiên ưu tiên cho những người thân cận nhất. Mà thân cận nhất của ta là ai nếu không phải là cha mẹ ta? Chính v́ thế, giới răn về việc đối xử với cha mẹ là giới răn đầu tiên trong bảy giới răn sau. Đó là giới răn thứ tư: «Thảo kính cha mẹ». Như thế, liền sau nghĩa vụ đối với Thiên Chúa, là nghĩa vụ đối với cha mẹ. V́ thế, việc hiếu thảo đối với cha mẹ có một chỗ đứng rất quan trọng trong luân lư Kitô giáo.
Trong Tam Phụ, th́ Hạ Phụ hay cha mẹ ruột thịt là «phụ tính» () mà chúng ta kinh nghiệm được đầu tiên. Từ đó, ta mới bắt đầu có ư niệm về «phụ tính» của Thượng Phụ và Trung Phụ. V́ thế, khi bàn về thần học Tam Phụ, chúng ta khởi sự từ Hạ Phụ.
A. Đạo Hiếu đối với cha mẹ dưới đất (Hạ Phụ)
Trên đời, người đầu tiên yêu thương chúng ta chính là cha mẹ ta. Trước khi chúng ta sinh ra, thậm chí trước khi chúng ta thụ thai trong ḷng mẹ, cha mẹ đă yêu thương chúng ta rồi. T́nh yêu đó càng ngày càng tăng triển sau khi ta sinh ra và trong khi ta lớn lên. Vừa lọt ḷng mẹ, ta đă được bao bọc ấp ủ ngay trong ṿng tay cha mẹ với một t́nh thương bao la nhất, vô vị lợi nhất. T́nh thương đó đúng là vô điều kiện: thật vậy, cho dẫu ta có bị «đui què mẻ sứt», xấu xí, hư đốn, khó tính khó nết hay khó thương đến đâu, cho dẫu không ai có thể thương ta nổi, th́ cha mẹ vẫn một mực yêu thương ta, thậm chí c̣n có thể dồn t́nh thương cho ta hơn những đứa con khác lành lặn, đẹp đẽ, ngoan ngoăn, dễ thương hơn. Ôi, có t́nh thương nào khác trên đời cao cả như thế?
Cha mẹ không chỉ yêu thương ta bằng t́nh cảm xuông, mà bằng những thể hiện cụ thể. Nào là mang nặng đẻ đau, chăm sóc dưỡng nuôi, giáo dục ta nên người. Nào là lo lắng cho chúng ta từng chút, thậm chí lo cho ta hơn cho chính bản thân các ngài, nhất là khi ta c̣n nhỏ. Không thể nào kể hết được công ơn cha mẹ. Văn chương b́nh dân chỉ biết so sánh đơn giản:
«Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra»
«Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền».
Chúng ta được như ngày nay, về thể chất cũng như tinh thần, về tài năng cũng như về đức hạnh, đều là do công ơn của cha mẹ, sẵn sàng chấp nhận đau khổ thiệt tḥi, chịu cực chịu khổ v́ ta.
T́nh thương và công ơn cha mẹ bao la như thế, sự công bằng đ̣i buộc ta phải đáp trả lại: t́nh thương phải được đáp trả bằng t́nh thương.
Trên trần gian này, không ai yêu ta và có công lao với ta hơn cha mẹ, nên ta có bổn phận với cha mẹ ḿnh trước hết. Trong Phật giáo, Đức Phật cũng dạy: «Hiếu vi vạn hạnh chi tiên» (làm người phải lấy chữ hiếu làm đầu). Sách Phật có câu: «Phụ mẫu tại đường như Phật tại thế» (cha mẹ ở nhà như Phật tại trần). V́ thế, các Phật tử cho rằng không thể thờ Phật mà lại bất hiếu với cha mẹ. Họ quan niệm: cha mẹ chính là hai vị Phật sống ở ngay bên họ, không phải t́m Phật ở đâu xa:
«Có hai Phật sống trong nhà
Sớm hôm lễ niệm đâu cần đi xa».
Theo Kinh Thánh, hai điều luật căn bản nhất của đạo là «mến Chúa, yêu người» (x. Mc 12, 28-39). Nhưng điều luật trước lại được thể hiện bằng điều luật sau, đến nỗi thánh Phaolô tóm lại chỉ c̣n một luật thôi: «Tất cả lề luật được tóm gọn trong một điều này: Hăy yêu người lân cận như chính ḿnh» (Gl 5, 14). Ai thực hiện được như thế chính là giữ trọn vẹn toàn bộ lề luật (x. Gl 6, 2 ; Rm 13, 8. 10 ; Cl 3, 14). Mà người thân cận nhất mà ta phải yêu thương chính là cha mẹ ta. Vả lại «luật vàng» của Chúa là: «Hăy làm cho tha nhân tất cả những ǵ ḿnh muốn họ làm cho ḿnh» (Mt 7, 12). Vậy th́ ta muốn cho con cái ḿnh đối xử với ḿnh thế nào, hăy đối xử với cha mẹ ḿnh như vậy. Có bao giờ ta muốn cho con cái ḿnh bất hiếu với ḿnh không?
Việc đền đáp t́nh thương và công ơn cha mẹ dù có làm nhiều đến đâu đi nữa, cũng không nên lấy làm đủ. Đức Phật dạy các đệ tử: «Trên đời này có hai người mà ta không thể trả hết ơn được là cha và mẹ ta. Dù có cơng cha mẹ trên vai suốt cả trăm năm cuộc đời, hay có tán xương lóc thịt để làm thức ăn cho cha mẹ cả trăm ngàn kiếp, cũng chưa đáp đền được công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, v́ công ơn cha mẹ to lớn lắm» (Kinh Vu Lan).
B. Đạo Hiếu đối với Cha trên trời (Thượng Phụ)
Ḷng hiếu thảo đối với cha mẹ phải lớn lao như thế. Nhưng theo người Kitô hữu, ḷng hiếu thảo của chúng ta đối với Cha trên Trời c̣n phải lớn lao hơn. V́ ngay cả cha mẹ ta cũng là do Thiên Chúa ban cho ta. Cha mẹ sinh ra ta, nuôi nấng dạy dỗ ta, công lao có to tát tới đâu th́ cũng là do Thiên Chúa đặt định cho ta cả. Chính Thiên Chúa cho cha mẹ ta sinh ra ta, yêu thương và hy sinh cho ta. V́ thế, Ngài yêu thương ta hơn cả cha mẹ ta, v́ chính Ngài là nguồn yêu thương, Ngài chính là T́nh Thương, và T́nh Thương chính là Ngài (x. 1 Ga 4, 7-8). Do đó, cha mẹ yêu thương ta bằng chính t́nh thương của Ngài. Ngài đă thể hiện t́nh thương của Ngài đối với ta qua việc chết v́ ta: «Không có t́nh thương nào cao cả hơn t́nh thương của người đă hy sinh tính mạng v́ bạn hữu của ḿnh» (Ga 15, 13). Bởi thế, người Kitô hữu đặt t́nh thương đối với Thiên Chúa lên trên hết, trên cả t́nh thương đối với cha mẹ. Theo họ, bổn phận đầu tiên của con người là phải «yêu mến Thiên Chúa hết ḷng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức ḿnh» (Đnl 6, 5 ; Mt 22, 37). Cha mẹ trần gian dẫu sao cũng chỉ là «thừa tác viên» của Thiên Chúa trong việc sinh ra ta, nuôi dưỡng giáo dục ta. V́ thế, luân lư Kitô giáo có mười giới răn, th́ ưu tiên dành ba giới răn đầu cho ḷng hiếu thảo đối với Thiên Chúa, chỉ dành một giới răn, nhưng là giới răn kế tiếp cho ḷng hiếu thảo đối với cha mẹ trần gian, và cuối cùng là sáu giới răn cho t́nh yêu thương đối với mọi người. Ḷng hiếu thảo đối với cha mẹ tuy đứng đầu các giới răn nói về t́nh yêu thương giữa con người với nhau, nhưng vẫn phải đặt sau ḷng hiếu thảo đối với Thiên Chúa. Nghĩa là phải «đại hiếu» đối với Thượng Phụ.
Thật vậy, đối với người Kitô hữu, t́nh thương cha mẹ mới chỉ là t́nh thương lớn nhất, bao la nhất theo chiều kích ngang giữa người với người mà thôi. T́nh thương đó dù bao la rộng răi tới đâu, cũng chỉ là một h́nh ảnh, một biểu trưng cụ thể nhất giúp ta hiểu được phần nào t́nh thương yêu của Thiên Chúa đối với con người, tức t́nh yêu bao la theo chiều kích dọc. T́nh yêu của cha mẹ đối với ta dù có bao la sâu đậm tới đâu th́ cũng có giới hạn, C̣n t́nh thương của Thiên Chúa th́ vô giới hạn: Ngài yêu thương chúng ta vô cùng. Chính Kinh Thánh đă dùng t́nh thương cha mẹ để giúp ta hiểu được t́nh thương vô hạn của Thiên Chúa: «Người mẹ làm sao quên được đứa con trai ruột của ḿnh? Nhưng dẫu người mẹ có quên con ḿnh đi nữa, th́ Ta cũng không thể quên ngươi!» (Is 49, 14). Và cũng tương tự như t́nh yêu của cha mẹ: «Không phải chúng ta yêu mến Thiên Chúa trước, mà chính Ngài đă yêu thương chúng ta trước» (1 Ga 4, 10). T́nh yêu Thiên Chúa là thứ t́nh yêu trường cửu, không bao giờ phai tàn.
Công ơn cha mẹ cũng chỉ là h́nh ảnh giúp ta hiểu được công ơn bao la của Thiên Chúa, là «nguồn mọi t́nh phụ tử trên trời dưới đất» (Lễ qui Rôma). V́ yêu thương và v́ hạnh phúc con người, Ngài đă tạo dựng cả vũ trụ bao la này để con người làm chủ, để vũ trụ phục vụ ta. Ngài dựng nên chúng ta để chúng ta hạnh phúc. Nhưng trong quá khứ, chúng ta đă dùng chính tự do và khả năng Ngài ban để chống lại Ngài, khiến chúng ta bị cái hạnh phúc nguyên thủy vô cùng quí giá ấy. Nhưng cho dẫu chúng ta phản bội Ngài như thế, Ngài vẫn không hề từ bỏ chúng ta, mà vẫn tiếp tục yêu thương chúng ta, thậm chí có thể yêu thương hơn cả trước khi chúng ta phản bội. Chính v́ thế, Ngài đă phải lập ra cả một chương tŕnh cứu độ vĩ đại để chuộc lại mạng sống và hạnh phúc của ta. Ngài đă nhập thể làm người, mang lấy thân phận yếu đuối và đau khổ y như chúng ta, chịu chết nhục nhă và thê thảm v́ ta. «… Ngài đă yêu thương những kẻ thuộc về Ngài đến cùng» (Ga 13, 1).
C. Tương quan giữa hai thứ hiếu thảo trên
Luật Chúa buộc ta vừa phải hiếu thảo với Cha trên trời, vừa hiếu thảo với cha mẹ dưới đất. B́nh thường hai thứ hiếu thảo này phù hợp nhau, khuyến khích lẫn nhau, thứ này đ̣i buộc phải có thứ kia. Nhưng cũng có nhiều trường hợp hai thứ hiếu thảo đó có vẻ xung khắc với nhau, ngăn trở lẫn nhau.
Thật vậy, hễ ta yêu Thiên Chúa, th́ Thiên Chúa đ̣i buộc ta phải thảo hiếu với cha mẹ ta. V́ Chúa Giêsu nói: «Ai yêu mến Thầy th́ sẽ giữ lời Thầy» (Ga 14, 23), mà «đây là giới răn của Thầy: anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em» (Ga 15, 12). Nếu yêu thương nhau chính là dấu hiệu quan trọng nhất chứng tỏ ḿnh là môn đệ Chúa, là Kitô hữu (x. Ga 13, 35), mà cha mẹ là đối tượng yêu thương ưu tiên và tất yếu, nên ai không yêu thương và thảo kính cha mẹ, th́ đó là dấu hiệu chứng tỏ ḿnh chưa phải là Kitô hữu đích thực, mà chỉ là thứ Kitô hữu «hữu danh vô thực» mà thánh Phaolô ám chỉ trong Rm 2, 28-29.
Vả lại, theo tư tưởng thánh Gioan th́ cha mẹ hữu h́nh ở gần ta, yêu thương ta, và có công lao cụ thể với ta bằng trời biển như thế, mà ta không thương yêu, th́ làm sao ta có thể yêu Thiên Chúa mà ta không thấy được? V́ thế, ai nói rằng ḿnh yêu Thiên Chúa mà lại không yêu chính cha mẹ ḿnh th́ hiển nhiên là nói dối (x. 1 Ga 4, 20). Thật vậy, có thật sự yêu cha mẹ ḿnh th́ mới có khả năng yêu mến Thiên Chúa. T́nh yêu của ta đối với Thiên Chúa bắt nguồn từ kinh nghiệm t́nh thương đối với cha mẹ. Tâm t́nh biết ơn và thảo hiếu đối với cha mẹ dưới đất thể hiện ḷng biết ơn và thảo hiếu đối với Cha trên Trời, và cũng là căn bản cho mọi thứ t́nh yêu khác: cha mẹ ḿnh mà ḿnh không yêu thương, th́ làm sao có thể yêu thương những người xa hơn, khó thương hơn, như bạn bè, hàng xóm, quê hương, dân tộc được?
T́nh yêu cha mẹ dẫn chúng ta tới t́nh yêu Thiên Chúa. Nếu cha mẹ là người Kitô hữu, th́ niềm mong ước lớn nhất của họ đối với con cái là mong cho con yêu mến Thiên Chúa và trọn đời sống đẹp ḷng Ngài. Và đối với Kitô hữu, cách thảo hiếu trọn vẹn nhất đối với cha mẹ chính là thật sự yêu mến Thiên Chúa và giữ giới luật Ngài. V́ ai thực ḷng yêu mến Thiên Chúa th́ cũng thành tâm thảo kính cha mẹ, và làm cho cha mẹ được Thiên Chúa chúc phúc.
Nhưng có những lúc hai thứ hiếu thảo trên (với Thượng Phụ và Hạ Phụ) có vẻ như xung đột lẫn nhau. Thánh Kinh có đưa ra một vài trường hợp cụ thể như trong Lc 10, 59-60: Một thanh niên được Chúa kêu gọi theo Ngài, nhưng anh ta xin Ngài cho ḿnh về chôn cất cha ḿnh đă. Chúa nói: «Hăy để kẻ chết chôn kẻ chết, c̣n anh, anh hăy theo tôi đi loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa». Chỗ khác Chúa nói: «Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống ḿnh nữa, th́ không thể làm môn đệ tôi được» (Lc 14, 26). Hoặc «Ai yêu cha mẹ hơn tôi th́ không xứng đáng với tôi» (Mt 10, 37). Chưa rơ vấn đề, ta thấy đ̣i hỏi của Chúa hơi khó hiểu. Thực ra, đối với những người được kêu gọi để làm việc cho Thiên Chúa, để rao giảng Nước Trời - là một việc rất lớn mưu ích cho rất nhiều người, đ̣i hỏi phải dốc hết tâm lực vào đó mới thành công - th́ đ̣i hỏi như thế thật là hợp lư. Cũng như người lo việc quốc gia, nhiều khi phải hy sinh quyền lợi của ḿnh, của gia đ́nh, của cha mẹ cho quyền lợi quốc gia.
Vả lại, giữa Thiên Chúa và cha mẹ, th́ đối với người Kitô hữu, Thiên Chúa phải được yêu thương và hiểu thảo một cách ưu tiên. Thiên Chúa là Chúa Tể vũ trụ, có quyền trên tất cả sự sống, Ngài yêu thương ta hơn bất kỳ tạo vật nào, nên Ngài xứng đáng được ưu tiên như thế. Theo Ngài, phụng sự Ngài, thuộc về Ngài là giá trị cao cả nhất đối với ta. Không ai trên đời có quyền lôi kéo ta ra khỏi Thiên Chúa, có quyền làm thiệt hại linh hồn ta, v́ «người ta có thể lấy ǵ chuộc lại linh hồn ḿnh được?» (Mt 16, 26). Giữa hai việc quan trọng hay hai vật quí giá mà ta phải chọn một, th́ sự hợp lư buộc ta phải chọn cái quan trọng hơn, quí giá hơn. Nếu người ta không thể lấy cớ truyền thống hay luật lệ xă hội để vi phạm giới răn của Chúa, cụ thể là giới răn thảo kính cha mẹ, để thoái thác bổn phận làm con (x. Mt 15, 1-9), th́ ta lại càng không thể vin vào bất cứ lư do ǵ để thoái thác đạo làm con đối với Cha trên trời, để rồi bất hiếu với Ngài.
Hiếu thảo với Trung Phụ
Trong thần học Tam Phụ, Trung Phụ là vua trong nước. Ngày nay, không c̣n vua nữa, nhưng trong Giáo Hội, ngoài Thiên Chúa là Thượng Phụ và cha mẹ là Hạ Phụ, chúng ta c̣n có cha mẹ khác là người sinh thành và nuôi dưỡng ta về mặt tâm linh. Đó là Giáo Hội, là Trung Phụ.
Thật vậy, nếu Thiên Chúa là Cha sinh ra chúng ta, và cha mẹ ta là thừa tác viên của Ngài trong việc sinh ra phần xác, th́ Giáo Hội chính là thừa tác viên của Thiên Chúa trong việc sinh lại chúng ta làm con cái Thiên Chúa, tức sinh ra phần hồn. Dưới một cách nh́n khác, nếu Giáo Hội là Hiền Thê của Chúa Kitô (x. Ep 5, 22tt), th́ Giáo Hội chính là Mẹ của chúng ta trong việc sinh lại chúng ta thành con cái Thiên Chúa. Trong thông điệp «Mẹ và Thầy» (Mater et Magistra), Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đă xác định chức năng làm Mẹ và làm Thầy của Giáo Hội, nghĩa là xác định Giáo Hội đă sinh hạ ta trong Đức Kitô và nuôi dạy ta lớn lên trong đức tin, gieo cấy vào bản thân ta «mầm sống vĩnh cửu». Giáo Hội có đầy đủ chức năng «sinh, thành, dưỡng, dục» của một người mẹ đối với ta:
· Sinh: Giáo Hội đă làm cho ta trở nên con cái Thiên Chúa, tức sinh lại chúng ta bằng nước và Thánh Thần trong Chúa Kitô (x. Ga 3, 5 ; 1 Cr 4, 15).
· Thành: Giáo Hội đă làm đuung chức năng như thánh Phaolô: «V́ anh em mà tôi phải chịu đau đớn như người mẹ chuyển bụng sinh con, cho đến khi Đức Kitô được thành h́nh trong tâm hồn anh em» (Cl 4, 19).
· Dưỡng: Giáo Hội đă nuôi dưỡng ta bằng cách «mời gọi ta chấp nhận đức tin, làm ta vững mạnh trong đức tin sống động» (CĐ Vatican II, GH 12), và bằng «nhưng bí tích được lập ra để nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu» (PV 59).
· Dục: Giáo Hội tiếp nối công tŕnh của Chúa Kitô trong việc giáo hóa, dạy dỗ con cái Chúa, dẫn đưa họ tới ơn cứu độ.
Với những chức năng đó, Giáo Hội đúng là bậc Cha Mẹ đă sinh thành ra chúng ta. Chúng ta phải biểu lộ ḷng hiếu thảo của ḿnh đối với Giáo Hội bằng ḷng yêu mến, kính trọng, vâng phục, cảm thông, trung thành, sự phục vụ và xây dựng Giáo Hội. Giáo Hội tuy là mẹ, tuy thánh thiện v́ là nhiệm thể của Chúa Kitô, nhưng Giáo Hội vẫn là con người, bao gồm cả người thánh thiện lẫn tội lỗi, cả người sáng suốt lẫn ngu muội. Chính v́ thế, có những lúc những người chính thức đại diện cho Giáo Hội có những hành động không tốt hay quyết định sai lầm, th́ chúng ta vẫn nên tỏ ra một thái độ thông cảm, t́m cách tế nhị để sửa sai với tất cả ḷng yêu thương và kính trọng của ḿnh. Tuyệt đối không nói xấu, chỉ trích… Một người mẹ dù đôi khi có sai trái, lầm lỗi hay tỏ ra hà khắc, th́ cũng vẫn là người đă sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục và luôn luôn yêu thương con cái. Người con hiếu thảo không thể v́ thế mà bất măn, hay tỏ ra bớt kính trọng và yêu thương đối với mẹ ḿnh, nhất là không bao giờ nói xấu hay từ bỏ mẹ ḿnh. Gương của Teilhard de Chardin, matteo Ricci, Roberto de Nobili, Karl Rahner, Yves Congar… lúc nào cũng đáng cho hậu thế bắt chước: cho dù bị Mẹ Giáo Hội chưa hiểu hay hiểu lầm ḿnh, và thậm chí ngược đăi ḿnh, các ông vẫn một mực yêu mến và trung thành với Mẹ Giáo Hội, kiên nhẫn chờ một ngày nào đó, Mẹ sẽ hiểu ḿnh hơn. Đó chính là những người con thật sự hiếu thảo của Giáo Hội.
Song song với ḷng hiếu thảo và biết ơn đối với Giáo Hội, chúng ta cũng phải nhớ tới t́nh thương và công ơn của Tổ Quốc, Đất Nước, cũng là Mẹ thiêng liêng của chúng ta. Tổ Quốc là người mẹ đă sinh ra chúng ta thành người Việt Nam, đă nuôi dưỡng và bảo vệ chúng ta, đă tạo cho chúng ta những điều kiện dễ dàng để sống ấm no, yên vui, hạnh phúc một cách tổng thể (như chống ngoại xâm, bảo vệ an ninh đời sống, phát triển kinh tế, giáo dục, làm đường xá…) vượt khỏi khả năng hạn hẹp của cha mẹ ruột thịt chúng ta. Ḷng hiếu thảo chúng ta phải có đối với Mẹ Việt Nam là phải trở nên những công dân tốt, tài năng, có phẩm cách đạo đức, yêu quê hương, yêu đồng bào, tôn trọng luật pháp, và sẵn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ và xây dựng đất nước…
***
Tam Phụ là ba h́nh thức khác nhau của cùng một «phụ tính» hay «mẫu tính» duy nhất của Thiên Chúa: Thiên Chúa chính là «nguồn mọi t́nh phụ tử trên trời dưới đất». Phụ tính và mẫu tính của cha mẹ chúng ta, của Giáo Hội hay Tổ Quốc ta, đều xuất phát từ Thiên Chúa. Thiên Chúa đă nhờ t́nh phụ tử, mẫu tử của Giáo Hội, của Tổ Quốc, của cha mẹ chúng ta để sinh, thành, dưỡng, dục chúng ta, để chúng ta tồn tại một cách tốt đẹp và hạnh phúc cho đến ngày giờ Ngài qui tụ tất cả chúng ta trong Nước Trời. Những t́nh phụ tử hay mẫu tử đó là h́nh ảnh đơn sơ nhưng đa dạng của t́nh phụ tử và mẫu tử của Thiên Chúa.
V́ thế, khi chúng ta hiếu thảo với Giáo Hội, với Tổ Quốc, với cha mẹ chúng ta, là chúng ta hiếu thảo với Thiên Chúa. Câu Kinh Thánh sau đây đúng với Giáo Hội, Tổ Quốc và cha mẹ chúng ta hơn với bất cứ một ai khác trên đời: «Mỗi lần các con làm điều ǵ cho những người bé nhỏ nhất đây, là các con làm cho chính Cha… và mỗi lần các con không làm điều ǵ cho những người bé nhỏ nhất đây, là các con không làm cho chính Cha» (Mt 25, 40. 45).

mục lục