ƠN GỌI TU SĨ VIỆT NAM
CÁCH RIÊNG D̉NG LA SAN TRONG TƯƠNG LAI
Anthony Nguyễn Huy Thọ
Thế giới hôm nay đầy phức tạp mới, đời sống văn minh dẫn đến sự chỉ lo hưởng thụ vật chất, thể xác và đạo đức xă hội đi xuống. Có những giáo phái mới xuất hiện, phá thai, ly dị. v..v. V́ thế trong nhiều nơi trên thế giới, đời thánh hiến cũng phải đương đầu với những đổi thay của xă hội như giảm sút ơn gọi (V.C 64) và ngay cả một số tu hội có nguy cơ bị xóa sổ (V.C 63). Vấn đề ơn gọi là một thách thức trực tiếp cho các tu hội nhưng cũng liên quan đến toàn thể Giáo Hội. Sau công đồng chung Vatican II, người ta đă thấy xuất hiện những h́nh thức mới mẻ hoặc được đổi mới đời thánh hiến (VT 63). Và sau đây chúng ta thử chia sẻ một số vấn đề về ơn gọi Việt Nam: Đứng trước nguy cơ khủng hoảng ơn gọi trong những thập niên tới và hăy tỉnh thức chuẩn bị đối phó ngay từ bây giờ.
Tại Âu Châu ngày nay, ơn gọi giảm sút một cách đáng sợ, đủ để chúng ta phải suy tư lại. Qua thực tế cho thấy rơ nhiều ḍng tu rộng lớn khi xưa không đủ chỗ cho ơn gọi, nay th́ ngược lại không đủ người cho các pḥng. Số tu sĩ c̣n lại già yếu, nhiều cơ sở phải bán bớt để tránh hao tổn tránh tiền thuế, tiền bảo tŕ. T́nh trạng suy giảm là t́nh trạng chung tại Âu Châu. Đặc biệt nhất là Giáo Hội Pháp nơi có bề dày lịch sử tôn giáo gần 1800 năm có đạo.
"Trong ṿng 10 năm số tu sĩ Pháp chuyển từ con số 18.128 xuống 15.155 (giảm 16, 4%) (L’Eglise catholique en france. Conférence des Eveques de France 1992 tr. 259)".
"Số tu sĩ tại Pháp giảm xuống … loại tu sĩ bị giảm nhiều nhất là các ḍng giáo sĩ, các ḍng chuyên dạy học và phục vụ tại bệnh viện" (L’Eglise catholique en France 1995 tr. 349).
Song song với việc giảm sút ơn gọi là sự giảm về số người tham dự thánh lễ, lănh nhận các bí tích, các lớp giáo lư và đồng thời là giáo dân tự tách rời ngày càng sâu rộng với Tin Mừng, với việc tông đồ của tu sĩ. Quả thật chúng ta không thể tưởng tượng được, linh mục theo yêu cầu của giáo dân đă đến cử hành thánh lễ tại băi biển hoặc tại nhà riêng v́ giáo dân không muốn mất th́ giờ "vô ích" hoặc v́ mưu sinh. C̣n người có đạo th́ ly dị nhau hoặc phá thai v..v.
Các tu hội Việt Nam có nhận ra cơn khủng hoảng ơn gọi sẽ xảy ra cho Giáo hội VN không?
Thưa có! Giáo hội VN đă nhận ra, ví dụ: Trong bài nói chuyện với các liên tu sĩ của Đức Giám Mục Bùi Tuần đă nêu ra VN chúng ta ngày càng đi sâu vào kinh tế thị trường tự do nếu chúng ta không chuẩn bị kỹ, không cảnh giác tới sự suy sụp đạo đức của xă hội. Sự phân biệt cách xa giữa người quá giàu và quá nghèo, với nền văn hóa dân tộc ngày càng mai một hoặc đánh mất đi giá trị truyền thống tôn giáo th́ chúng ta phải trả giá rất đắt cho ơn gọi".
Đi đôi với việc giảm sút ơn gọi là giảm sút đức tin và phong hóa như đă và đang xảy ra cho Giáo hội Ba Lan. Và cũng không loại trừ những giáo phái sẽ xuất hiện những khuynh hướng chính trị, xă hội. Những tôn giáo muốn đẩy Giáo hội VN ra ngoài lề xă hội.
Trước những viễn tượng trên chúng ta hăy sống chứng nhân bằng tám mối phúc thật, cộng tác tông đồ với giáo dân v́ giáo dân giữ một vai tṛ rất quan trọng, đặc biệt trong lănh vực văn hóa. Hăy là những cây vả có trái chứ đừng là những cây vả chỉ phát triển cành lá xum suê mà không có trái nên sẽ bị Thiên Chúa ruồng bỏ (Mt 21:18-19). Các tu hội phải sống như là chứng nhân của Đức Kitô để giáo dân nh́n vào đó làm gương. Phải là năm người trinh nữ khôn ngoan (Mt 25:13) biết tỉnh thức, biết sẵn sàng ra đi với đầy đức ái trong tim để làm chứng. Người môn đệ của Đức Kitô trong thế giới hôm nay hăy là ṭa nhà xây trên đá (Mt 7: 24-27). Ḍng tu phải luôn được xây dựng trên nền tảng Đức Kitô là Đấng khiêm nhường, hiền lành, đầy Thánh Linh chứ không phải trên nền tảng kiêu căng danh vọng.
Do đó các tu hội VN cần đổi mới việc tông đồ trong đời thánh hiến của ḿnh. Với công đồng Vatican II trở về trung tâm điểm là Đức Kitô, Đấng là mô h́nh phục vụ con người để làm chứng cho ḷng tin, cậy, mến Thiên Chúa và làm sáng danh Thiên Chúa qua việc thăng tiến con người mang h́nh ảnh Thiên Chúa. Để thể hiện nhiều ḍng tu đă có nhiều chọn lựa mới trong các hoạt động tông đồ như:
-Hoạt động nơi những người nghèo khổ, những kẻ bị loại trừ,
bị bỏ rơi do bất kỳ lư do ǵ (VC 63). Tuy nhiên một số tu hội: Việc tông đồ thay
đổi thường gây ra những khó khăn, những đau khổ cho nên đ̣i hỏi tu hội đó phải
biết biện phân, dựa vào một số tiêu chuẩn. Chẳng hạn, nên bảo toàn ư nghĩa của
đoàn sủng riêng, thăng tiến đời huynh đệ, quan tâm đến nhu cầu của Giáo Hội trên
hoàn vũ và Giáo Hội địa phương, lo cho cái mà thế gian xao lăng, đáp lại một
cách quảng đại và táo bạo ngay cả bằng những hành động dĩ nhiên là có giới hạn
h́nh thức mới của nghèo khó, nhất là những nơi xa xôi hẻo lánh. (VC 63).
-Hoạt động tông đồ bao gồm cả các tu sĩ nam nữ, các linh mục không phân biệt
ḍng, triều, các giáo dân và đôi khi cả những người ngoại đạo. Trong nhóm này
người tu sĩ sẽ học được nhiều điều mới mẻ về sự biết cộng tác, biết tham gia và
trách nhiệm sáng tạo, biết đối thoại và cảm thông (VC 50; 90,74).
-Hoạt động qua việc huấn luyện tu đức của ḿnh, của cộng đoàn ḿnh, làm chứng
ḿnh luôn học làm người của Chúa, thích nói với Chúa, biết nói về Chúa, biết
quan tâm đến con người, biết dựa vào Thần Khí và quyền năng của Thiên Chúa (1Cor
2:1-4-5). Người tu sĩ phải theo gương Chúa Kitô, tiếp tục sứ mạng của Người v́
cả cuộc đời của Chúa Giêsu là một sứ mạng phục vụ Thiên Chúa và con người (VC
72, 73).
-Hoạt động bằng đưa Phúc Âm vào nền văn hóa (VC 98). Hầu đưa dung mạo mới của
Hội Thánh đến với xă hội ḿnh. Muốn được như vậy cần nắm bắt đúng những chuyển
biến trong xă hội, trong Giáo Hội. Nhất là cần trở về với Phúc Âm một cách dứt
khoát, phải có những con người tha thiết gắn bó với Thiên Chúa và Tin Mừng của
Người (VC 81).
-Song song với việc hoạt động tông đồ. Các tu hội có ơn gọi giáo dục hăy trung
thành với đoàn sủng tiên khởi, canh tân cách dấn thân trong lănh vực giáo dục
(VC 97), v́ giáo dục là yếu tố chính trong sứ mạng của Giáo hội. V́ sự thánh
thiện là mục đích của việc giáo dục. Tạo ra những cơ cấu giáo dục thấm nhuần
tinh thần Phúc Âm (VC 96). Các tu hội phải biết về truyền thông xă hội v́ đây là
lănh vực có sức thuyết phục phi thường và có khả năng lan rộng khắp hoàn cầu.
Người tận hiến phải hiện diện, làm chứng cho Tin Mừng bằng những phương tiện đó,
sao cho Phúc Âm Chúa Kitô được loan báo bằng những phương tiện hiện đại. Người
tu sĩ phải hiểu biết vững vàng về ngôn ngữ đặc thù của các phương tiện ấy, phải
đào tạo những chuyên viên về truyền thông, phải là những khán thính giả thành
thạo, biết khôn khéo ứng phó với các trở ngại, biết đề cao cảnh giác sự xử dụng
bừa băi các phương tiện ấy (V.C 99).
Như vậy so với ơn gọi tại Âu Châu đang gặp khủng hoảng, ơn gọi VN hiện nay khả quan hơn. Nhưng nhiều người lại đoán chắc sẽ xảy ra cho Giáo hội VN, v́ lư do Giáo Hội Pháp có bề dày lịch sử tôn giáo đáng nể, có nhiều vị thánh, có nhiều người tài giỏi c̣n gặp khủng hoảng ơn gọi: do nền văn minh chỉ biết hưởng thụ, v́ sự tục hóa của xă hội đă tiến nhanh đă tràn dâng khắp nơi. Huống hồ chi Giáo hội VN c̣n non trẻ. Do đó các tu hội VN cần phải tỉnh thức với ơn gọi hiện nay đừng ngủ quên trong danh vọng và hăy nhớ sự thất bại của đời thánh hiến không phải do số ơn gọi giảm sút mà do người ta không c̣n gắn bó với Thiên Chúa, với ơn gọi và với sứ mạng. Thiên Chúa đ̣i hỏi mỗi người phải trung tín dấn thân hơn là thành công (VC 63).
Và bây giờ, cách riêng với ơn gọi La San trong những thập niên tới. Như chúng ta đă biết về ḍng La San là một trong những ḍng giảm sút ơn gọi nhất, v́ không c̣n môi trường giáo dục, các cơ sở không c̣n và các sư huynh tản mác khắp nơi. Nhưng ḍng không v́ thế mà suy sụp và nản chí v́ tinh thần ḍng là tinh thần đức tin.
"Trong đức tin các sư huynh nhận xét mọi thực tại trần thế theo ánh sáng Phúc Âm. Biến cố… là một dấu chỉ và là tiếng gọi của Thần Khí" (Luật ḍng 5).
Quả thật qua biến cố lịch sử năm 1975 của VN; Ḍng La San gặp bao thử thách: bị bắt bớ, không được dạy học, nền kinh tế của ḍng sa sút hẳn. Cộng đoàn nào có việc làm thêm như chăn nuôi, trồng trọt, nuôi ong… th́ khá hơn các cộng đoàn khác, v́ mỗi nơi tự lo lấy kinh tế. Có thể nói cũng gần giống hoàn cảnh anh em gặp trong cách mạng Pháp 1789. V́ vậy các sư huynh Việt Nam đă sống như chứng nhân của Chúa và của Giáo Hội, trung thành với ơn gọi, với đoàn sủng, sống đúng tinh thần đức tin của ḍng. Trong thử thách đó, các sư huynh đă t́m ra thánh ư Chúa muốn ḍng trở về với đoàn sủng, về với giới trẻ nghèo đích thực để đem ơn cứu rỗi đến cho chúng. Sau năm 75, một Sư huynh già đă nói với tôi: "Đây là thánh ư Chúa, là một dịp để ḍng xác định lại ơn gọi, ai là người trung thành với đoàn sủng, ai là người sống đúng tinh thần đức tin của ḍng. Và cũng để cho Giáo hội VN xác định lại đời thánh hiến của các tu sĩ, các linh mục đă lạm dụng quyền bính của ḿnh và đă sống xa rời Phúc Âm" . Sư huynh đó đă phó dâng tất cả cho Chúa, cùng cộng tác với Giáo hội địa phương như dạy giáo lư và luôn luôn tha thứ, cầu nguyện cho những kẻ "bách hại ḍng". Điều này đánh động tôi rất nhiều vào lúc đó. Người tu sĩ La San phải làm gương tốt cho học sinh, cho trẻ noi theo. "Anh em phải bắt chước tôi như tôi bắt chước Đức Kitô" (1Cr 11:1). "Không phải tôi sống mà Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2:20).
Đứng trước những thách đố ngày nay: tỉnh ḍng La San xác nhận lại cứu cánh của ḍng là truyền giáo bằng cách hợp tác với Giáo Hội địa phương như dạy giáo lư, sinh hoạt, giảng tỉnh tâm hầu đem ơn cưú rỗi đến cho trẻ nghèo, trẻ em bị bỏ rơi.
Để chuẩn bị cho ơn gọi La San trong tương lai, tỉnh ḍng La San ngay từ bây giờ "buộc" các sư huynh phải trở về nguồn nguyên thủy của ḍng là Phúc Âm để đem lại ơn cứu rỗi đến trẻ nghèo, phải trở về các văn kiện, các phương pháp của cha La San. Phải nh́n ra dấu chỉ thời đại để đáp lại những dạng mới của sự nghèo khó (VC 63), hoặc mở các lớp nội trú để mọi người thấy sư huynh là chứng nhân của Giáo Hội, mở các lớp dạy nghề như vi tính, thợ mộc… để trẻ có thể hội nhập vào xă hội. Nâng cao chương tŕnh huấn luyện tu đức để chuẩn bị đào tạo ra các sư huynh đích thực như Đức Kitô. Cổ vơ và cầu nguyện cho ơn gọi La San bằng cách biết kết hiệp với Giáo hội địa phương nhưng không xô bồ hoặc thiếu thận trọng (VC 69). Hăy nhớ rằng sứ mạng trứơc tiên của các Sư huynh là sống chứng tá cá nhân, rồi mới đến công tác bên ngoài (VC 72). Phải sống cùng chung và liên kết với nhau, sống đời cộng đoàn đích thực yêu thương nhau (VC 92). Phải sống kết hiệp giữa chiêm niệm và hoạt động (VC 74) kêu mời sự đóng góp tích cực của mỗi Sư huynh với ḍng, với Giáo Hội .V́ Thần Khí đă tỏ ḿnh ra nơi mỗi người một cách v́ ích chung (1Cr 12:7).
Phần tôi để cùng chia sẻ với ơn gọi La San trong tương lai, tôi nguyện xin đóng góp tất cả khả năng của tôi để xây dựng nước Chúa qua Tỉnh ḍng. Tôi phải học thật kỹ về mặt tu đức hầu đem ơn cứu rỗi đến tầm tay mọi người nhất là giới trẻ nghèo. Tôi phải sống bằng lối sống Kitô qua ơn gọi La San để mọi người nh́n và tin rằng Thần Khí đă thổi vào đoàn sủng La San trong ḷng Giáo hội, để xây dựng Giáo Hội, để đem ơn cứu rỗi đến trẻ nghèo, và làm rạng danh Thiên Chúa Ba Ngôi. Tôi sẵn sàng làm bất cứ điều ǵ mà Tỉnh Ḍng và Giáo hội VN đưa ra, làm một viên gạch dọn đường cho thế hệ mai sau dẫu có chịu nhiều thiệt tḥi.
Để kết luận, chúng ta cùng nhau nhớ lại lời Đức Kitô thưa với Đức Chúa Cha: "Lạy Cha là Chúa trời đất, con chúc tụng Cha v́ đă giấu những điều đó cho những kẻ khôn ngoan thông thái, nhưng lại mạc khải cho những kẻ bé mọn" (Mt 11:25). Hy vọng những kẻ bé mọn Chúa nói đây là chính chúng ta. Chúng ta hăy cầu nguyện và t́m hiểu ư Chúa như tiếng Chúa gọi. Chúa chờ đợi sự trung tín của mỗi cá nhân hơn là sự thành công. Chúa chờ đợi sự đáp trả của từng Ḍng, của từng tu sĩ (VC 63).