ƠN GỌI LA SAN TRONG L̉NG GIÁO HỘI 

Phạm Anh Dũng

Hơn 30 năm sau khi Sắc lệnh Perfectae Caritatis ra đời bàn về việc canh tân Ḍng tu, đến nay chúng ta mới có một tông huấn tương đối đầy đủ về đời thánh hiến: Tông huấn Vita Consecrata. Khi đọc bản văn này, tôi rất ngạc nhiên: ở chương đầu, thay v́ dùng những đoạn Tin mừng khắc họa rơ nét hơn đời sống thánh hiến như xưa nay thường dùng, đằng này Tông huấn lại dùng đoạn Tin mừng Matthêu 17:1-9 nói về biến cố Đức Giêsu biến h́nh trên núi Ta-bor dưới sự chứng kiến của một số môn đệ. Đoạn Tin mừng xem ra không ăn nhập ǵ với đề tài tông huấn muốn tŕnh bày. Tuy nhiên để ư một chút chúng ta sẽ thấy ngay dưới đoạn Tin mừng là lời giải thích về Chúa Kitô mà đối tượng đón nhận là chính Giáo hội. Liên tiếp trong các chương, Tông huấn không hề tách rời đời sống thánh hiến ra khỏi Giáo hội mà c̣n khẳng định "đời thánh hiến không là một thực tại biệt lập, bên lề, nhưng liên hệ đến toàn thể Giáo hội" (VC 3). Điều này chứng tỏ rằng vai tṛ của Giáo hội trong đời sống thánh hiến là "bất khả ly" và đời sống thánh hiến ở ngay trong ḷng Giáo hội (VC 3).

Chính trong tinh thần đó, tôi xin chia sẻ một vài suy tư về mối tương quan giữa ơn gọi La San với Giáo hội. Những nét độc đáo của linh đạo La San khởi đi từ Thần Khí Thiên Chúa qua thánh Gioan La San, kết thúc nơi Đức Giêsu Kitô và sống động trong ḷng Giáo hội.

Mỗi người chúng ta khi lănh nhận Bí tích Thánh tẩy sẽ "được trở thành chi thể Chúa Giêsu Kitô, được gia nhập vào thân thể Giáo hội và tham dự vào sứ mạng Giáo hội…" (GL. 1213). Theo nhận định trên, mỗi người chúng ta là chính Giáo hội ngay khi nhận lănh Bí tích Thanh tẩy. Do đó, ơn gọi La San cũng chỉ là sự "nảy sinh từ sự cung hiến của Bí tích Thánh tẩy, và thể hiện nó một cách sung măn hơn…" (E.T.4). Như vậy ơn gọi La San không phải là một ơn gọi riêng bên lề hay tách biệt khỏi Giáo hội nhưng là "một món quà Chúa tặng cho Giáo hội" (G.S. 39). Thật vậy, Chúa Thánh Thần luôn nh́n thấy những nhu cầu của xă hội và Giáo hội. Người "gợi hứng" cho một vài người để từ ḷng Giáo hội, họ ra đi và bằng nhiều h́nh thức họ mang ơn cứu độ cho mọi người. Điều này cũng xảy đến cho Giáo hội Pháp vào giữa thế kỷ thứ XVII, khi Gioan La San, một linh mục trẻ, tập họp một số thầy giáo lại để cùng nhau chăm lo việc giáo dục trẻ nghèo và mục đích tối hậu là cho chúng được ơn cứu sống. Tuy nhiên, lúc đầu Gioan La San không ư thức được rằng Thiên Chúa đang muốn dùng Người cách đặc biệt, chỉ dần dần Ngài mới nh́n thấy đằng sau những biến cố trong đời Ngài, đằng sau những thảm trạng của xă hội cả một ư định cứu sống của Thiên Chúa. "Thiên Chúa đă muốn chữa lành điều bất hạnh lớn lao này bằng cách thiết lập trường Kitô…" (MR 194, 1, 2), và rồi từ ư định độc đáo này, Thiên Chúa đă thiết lập trong Giáo hội ḍng Anh Em Trường Kitô để "đem lại cho giới trẻ, đặc biệt trẻ nghèo, một nền giáo dục nhân bản và Kitô…" (L D 3). Vậy, chính Thiên Chúa đă khơi mào ơn gọi của chúng ta qua thánh Gioan La San và để đáp lại tiếng gọi ấy, từ ḷng Giáo hội đă phát sinh một hội ḍng chuyên biệt giáo dục để phục vụ ư định cứu sống của Người.

Ngày nay, trước thực trạng ơn gọi tu tŕ đang giảm thiểu trầm trọng, không ít người âu lo tự hỏi: tương lai của ḍng sẽ đi về đâu? Tre đă già nhưng măng chưa mọc hoặc mọc quá ít. Ḍng đă bắt đầu suy vong rồi chăng…? Là con người, chúng ta không khỏi phải lo lắng cho tương lai bất an của ḿnh, lo cho "ḍng tộc" ḿnh tuyệt tự. Tuy nhiên, chúng ta không thể quên điều xác tín mạnh mẽ trên. Chúng ta được tập họp lại với nhau bởi ư định của Thiên Chúa, có thể một ngày nào đó Thiên Chúa không sử dụng chúng ta nữa, chúng ta phải chấp nhận dù rất đau đớn. Điều này không phải là lư thuyết nhưng nó đă được kiểm chứng qua lịch sử của Giáo hội. Biết bao ḍng tu lớn nhỏ biến mất và nhiều h́nh thức tu tŕ mới ra đời. Qua những kinh nghiệm trên, chúng ta rút được một bài học quí báu: chúng ta chỉ có một thành lũy duy nhất được Chúa Giêsu bảo đảm "Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi" (Mt 16:18). Vả lại, ḍng chúng ta cũng chỉ là một dụng cụ trong bàn tay của Thiên Chúa để xây dựng ngôi nhà của Giáo hội. Có lẽ chúng ta mỗi người phải luôn tâm niệm điều mà Thánh Gioan La San hằng tâm niệm "Chúa ban cho tôi tất cả, nay Chúa lại lấy đi tất cả, chẳng ǵ xảy ra cho tôi mà Chúa không muốn" (LD trang 14).

Một chiều kích khác của ơn gọi La San là sứ vụ tông đồ, nhưng chúng ta không phải làm việc tông đồ cho chúng ta hay cho ḍng mà làm việc cho Giáo hội. Thánh Gioan La San viết: "… anh em làm việc cho Giáo hội, (nhiệm thể Chúa Giêsu) anh em trở thành thừa tác viên của Giáo hội, theo lệnh truyền của Thiên Chúa để ban phát Lời Người…" (MR 201, 2, 2). Thật vậy, khi chúng ta tự nguyện dâng hiến cho Thiên Chúa qua các lời tuyên khấn đồng thời chúng ta cũng nhận từ Giáo hội một sứ mạng tông đồ. Sứ mạng cao cả là "đặt nền móng cho ṭa nhà Giáo hội" (Ep 2:22), do đó chúng ta được Giáo hội sai đi, bởi thúc bách của nhu cầu xă hội, của chính Giáo hội. Có vậy mọi hoạt động của chúng ta mới thực sự là dấu chỉ hiệp thông với Giáo hội, là những "thừa tác viên của Chúa Giêsu Kitô" (MR 193, 3, 1).

Chắc chắn chúng ta được sai đi không với tư cách cá nhân nhưng với tư cách cộng đoàn trong một sứ mạng "cùng chung và liên kết". Điều này được thể hiện rơ nét trong suốt cuộc đời của thánh Gioan La San và nhất là trong hai công thức khấn ḍng năm 1691 và 1694. Thánh Gioan La San nhấn mạnh và nhắc lại ít nhất là hai lần (xem "Hạnh Thánh Gioan La San trang 102 và 110 của Frère An Phong –1996). Điều này cho thấy Gioan La San đặt nặng ư nghĩa "cùng chung và liên kết" trong đời sống thánh hiến và trong sứ mạng tông đồ của các Sư huynh.

Cũng vậy, bộ luật năm 1987 lập lại gần như nguyên vẹn lời khấn trên và được coi làlời khấn thứ tư trong năm lời khấn của các Sư huynh (xem "Luật ḍng các Sư huynh trường Kitô" số 25- 1987). Trong cùng một ư nghĩa đó Sư huynh Tổng quyền khẳng định: "Ơn gọi của chúng ta phát sinh tính hiệp thông…" (xem Thư mục vu: Đời sống cộng đoàn của chúng ta của Frère John Johnston –1992) và Giáo hội tóm kết "đời sống hiệp thông trở thành một dấu chỉ cho thế giới và một sức mạnh thu hút người ta tin vào Đức Kitô" (VC 46).

Như vậy, một mặt cộng đoàn hiệp thông là điều thiết yếu cho công cuộc tông đồ, mặt khác nó c̣n là sự hiện diện làm chứng cho sự hiệp thông trong giáo hội. Thật vậy, trước khi Chúa Giêsu về cùng Chúa Cha: "xin ǵn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đă ban cho Con để họ nên một như chúng ta…" (Ga 17:11). Ngày nay, Giáo hội cũng ư thức được rằng ḿnh là cơ cấu của những con người nên Giáo hội luôn cầu xin cho mọi phần tử được hiệp nhất với nhau, trong một Đức Kitô. Do đó, Giáo hội mời gọi chúng ta, những người thánh hiến phải làm chứng cho mọi người thấy dấu chỉ này "sống huynh đệ hiểu như là một đời sống chia sẻ trong t́nh yêu là một dấu chỉ hùng hồn về sự hiệp thông Giáo hội" (VC 42). Đúng vậy, nếu mỗi người chúng ta, mỗi cộng đoàn chúng ta không thông hiệp với nhau th́ làm ǵ Giáo hội có sự hiệp thông, và chúng ta sẽ chỉ là những phần tử "ly tán" của Giáo hội, là những "ảnh ảo" ngược chiều của Giáo hội.

Một vấn đề khác cũng được quan tâm cách đặc biệt trong những năm gần đây là: sự cộng tác của chúng ta với Giáo hội địa phương, nơi cộng đoàn chúng ta đang sống. Có lẽ trong quá khứ chúng ta đă không cộng tác đủ với Giáo hội địa phương để xây dựng Giáo hội, bởi v́ trong khuôn viên học đường, chúng ta đă mệt nhoài với trẻ; công việc bù đầu, chúng ta đâu c̣n hơi sức đâu để t́m hiểu những nhu cầu của giáo xứ, giáo phận, hoặc tệ hơn chúng ta trở thành những người ban phát, là những "bậc đáng kính" thay v́ là người chia sẻ trách nhiệm. Tuy nhiên, Ḍng đă nhận ra những sự cần thiết phải cộng tác với Giáo hội địa phương nên đă nhắc nhở: các Sư huynh hăy tham gia vào mục vụ của Giáo hội địa phương với tư cách là Giáo lư viên, là phụ trách huấn luyện hay phụ trách linh hoạt các Kitô hữu được mời gọi tham gia công tác huấn giáo" (LD 15b). Vậy ḍng đă xác định rơ vai tṛ, trách nhiệm của chúng ta với Giáo hội địa phương. Về phần Giáo hội, Giáo hội nói ǵ? "Bên trong các Giáo hội địa phương, những người được thánh hiến cũng có một vai tṛ đầy ư nghĩa…" và vai tṛ đó được xác định: "Các đoàn sủng của đời sống thánh hiến có thể góp phần đắc lực vào việc xây dựng đức mến trong Giáo hội địa phương" (VC 48) và Giáo hội nhắn nhủ đến mọi người chúng ta, "những người được thánh hiến sẽ không quên quảng đại cộng tác với Giáo hội địa phương, tùy theo sức đoàn sủng của ḿnh hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội trong lănh vực Phúc âm hóa, huấn giáo, đời sống giáo xứ" (VC 49). Dĩ nhiên, ở đây phải có sự tôn trọng và lắng nghe nhau, giữa giáo quyền và ḍng nhưng cách chung Giáo hội mời gọi mỗi cá nhân chúng ta là men, là muối trước hết từ chính ḷng Giáo hội địa phương nơi chúng ta đang sống.

Cũng trong tinh thần "gánh vác" trách nhiệm với Giáo hội, chúng ta trở về với ḍng trong sứ vụ chia sẻ. Tổng công hội lần thứ 42 họp từ tháng 4 đến giữa tháng 5 năm 1993 đă để ra rất nhiều thời gian cho việc bàn thảo về sứ vụ chia sẻ. Tổng công hội khẳng định: đây là "một ơn ban và một phong trào cho ngày nay" (xem "thư luân lưu 435" trang 62)

Thật vậy, chúng ta không chỉ đón nhận từ Giáo hội những huấn quyền hoặc thực thi một vài công tác tông đồ nhưng chúng ta c̣n phải biết chia sẻ linh đạo La San cho những người nam và người nữ đến với chúng ta trong cùng một tác vụ giáo dục. Trong một xă hội bị biết bao nhiêu chủ thuyết lệch lạc tác động, Giáo hội "luôn xác tín rằng giáo dục là một yếu tố chính yếu trong sứ mạng của Giáo hội" (VC 96). Vậy, cớ sao chúng ta không chia sẻ linh đạo độc đáo của chúng ta, một nền linh đạo đă từng giúp ích cho bao người trong ba thế kỷ qua. Câu đáp tôi xin để cho mọi người tự trả lời lấy trong chính điều kiện của mỗi người và trong môi trường mà chúng ta đang sống.

Điểm cuối cùng tôi xin tŕnh bày là sự vâng phục của chúng ta đối với Giáo hội. Thuở sinh tiền, thánh Gioan La San luôn trung thành với Giáo hội và Ngài cũng khuyên nhủ anh em của Ngài: "Tôi khuyên Anh Em tiên vàn phải luôn vâng phục Giáo hội" (xem "Hạnh Thánh Gioan La San" trang 249) và Ngài thêm: "Tôi đă gởi hai Anh Em qua Rôma để cầu xin Chúa ban cho ḍng Anh Em luôn tuân phục Giáo hội" (Sđd trang 249). Ngày nay chúng ta không những phải vâng phục Giáo hội mà thôi mà chúng ta c̣n phải trung thành với huấn giáo của Giáo hội. Trước sức ép của các chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa khoái lạc, tục hóa… đi ngược lại tín lư và luân lư của Giáo hội, chúng ta phải can đảm dạy cho trẻ biết đâu là sự thật cứu sống, đâu là những mầm mống đưa đến diệt vong, có như vậy chúng ta mới thật là những "cán bộ" trung kiên của Giáo hội trong một xă hội mà các giá trị bị đảo lộn như hiện nay.

Lược qua một vài nét chính trong Ơn gọi của một tu sĩ La San, cũng như sự đ̣i hỏi thiết yếu phải có mối quan hệ mật thiết giữa chúng ta và Giáo hội là "Mẹ chúng ta" (Ga 4:26) lẽ nào chúng ta lại có thể hững hờ với sự quan tâm săn sóc của Người. Chúng ta lại có thể quay lưng lại với Người, khước từ t́nh yêu của Người sao?

Tôi ước ao mỗi người chúng ta luôn đạt Giáo hội Mẹ trong trái tim ḿnh. Mỗi nhịp đập trong trái tim của chúng ta là một nhịp đồng cảm với Giáo hội, âu lo, thao thức cùng Giáo hội để trong mọi lúc của cuộc sống chúng ta , chúng ta có thể thầm thĩ như Têrêsa thành Lisieux "Trong ḷng Giáo hội Mẹ con, con sẽ là t́nh yêu…" (xem "Thủ bản tự thuật" B,3).