Ông An bực ḿnh gắt vợ :
“ Đổ
xăng từng lít thế nầy làm sao mà đi xa được. Bà đưa thêm tôi
năm đồng nữa, chứ đổ xăng chạy từng đoạn một, ai mà chịu nổi
”.
Bà An ngồi nh́n ra phía
trước, mặt lạnh lùng bảo :
“ Chạy
hết th́ đổ thêm, đổ làm chi cho nhiều, không chừng nó bay
hơi đi, phí phạm ”.
Ông An
bực lắm, nhưng không lẽ gây gổ làm cho ngày mất vui. Mới đổ
xăng xong, mà cái kim chỉ mức xăng xuội lơ chỉ xuống hướng
tám giờ, gần vết đỏ báo động. Bị hai chiếc xe ém hai đầu,
ông chưa tiện ra, th́ bà An đă nói:
“Anh chờ
chi nữa mà chưa cho xe ra ? Khoảng cách rộng thế mà không ra
xe được sao ? Tôi thấy mấy người khác làm cái vèo là xong.
Anh lái xe dở như hạch ” .
Ông An
thôi bực ḿnh v́ những lời chê bai của vợ, v́ nghe quá
thường. Ông chậm răi giải thích :
“ Lái xe
cần nhất là cẩn thận để tránh tai nạn, nóng nảy gây tai nạn
phiền phức và tốn kém lắm ”.
Bà vợ
chêm vào:
“ Có ǵ
th́ bảo hiểm nó đền, việc ǵ phải lo ”.
Khi ông
đang lái xe trên đường, bà la lối :
“ Tôi
bảo chạy xe trên lằn bên phải, sao anh ra lằn ngoài hoài vậy
? ”.
Ông An
ậm ừ :
“ Tôi
lái xe hay bà lái đây ? Xe bên trong nó đậu chật như vậy,
làm sao đủ chỗ mà không lái ra ngoài. Nầy, bà để tôi lái,
làm rộn, phân tâm dễ sinh ra tai nạn ”.
Im lặng
được vài phút, bà An quay qua chồng hỏi :
“ Sao
cái quạt gió trong xe hồi nầy nó yếu, hơi mát không ra nhiều.
Chắc anh để ông thợ sửa xe kỳ trước làm hư mà không bắt đền.
Chỉ có một chiếc xe thôi mà không biết giữ ǵn cho tốt. Rồi
phải tốn thêm tiền nữa đây ” .
Ông An
không thèm trả lời câu hạch hỏi của vợ, đưa tay kéo cần điều
chỉnh hơi quạt từ vị trí phá mù qua vị trí hơi gió thổi vào
ḷng xe. Hơi gió mát thổi vù vù, bà cười bảo :
“ Ừ, có
thế chứ, tưởng đâu anh không lo giữ ǵn, để chúng làm hư mà
không biết ”.
Xe đang
chạy ngon trớn, bà An la lên :
“ Quẹo
trái, quẹo trái vào ngơ trước mặt ” .
Ông An
không kịp đổi lằn, không kịp nh́n xe bên hông để xem có an
toàn hay không, cho nên chạy thẳng và t́m cách quay lui. Bà
An nói:
“ Chưa
thấy ai lái xe dở như anh . Phản ứng chậm chạp như ông cụ
già. Thế mà khi nào cũng khoe là lái giỏi, chưa bao giờ bị
tai nạn ”.
Bị chê
nữa, ông gằn giọng :
“ Có
giỏi th́ lái đi. Lái cho chết sớm, cho què cụt, đi xe lăn
sớm ”.
Khi đèn
xanh vừa bật, ông chờ các xe hướng khác dừng hẳn, cho an
toàn, mới quay đầu ngược lại, th́ bà tru tréo lên :
“ Đèn
xanh rồi mà không đi. Anh chờ ai ? À th́ ra thấy con nhỏ lái
xe bên kia trẻ đẹp th́ anh nịnh đầm, nhường đường cho nó chứ
ǵ ? Tôi biết mà, anh thấy đàn bà th́ tối mắt ”.
Ông An
bực trong ḷng, ông đâu có biết người lái xe bên kia là đàn
ông hay đàn bà, chứ đừng nói thấy được đẹp xấu. Bởi thường
bị vợ gây gổ trong lúc lái xe, ông An đă tập cho bà biết lái,
để bà hiểu thêm về luật lệ, và khi cần, bà có thể đi một
ḿnh, không cần nhờ vả ai.
Nhưng bà
lái xe quá chậm, như chạy chiếc xe hư. Mỗi lần ông nhắc bà
chạy nhanh hơn, th́ bà cáu bẵn, la lối rằng bà thấy không
cần chạy mau. Bà chạy trong lằn xe của bà, ai muốn mau th́
qua lằn xe khác mà chạy. Không việc ǵ mà than phiền, không
việc ǵ mà bực bội vô lư. Cho đến khi bà bị cảnh sát phạt v́
tội lái xe chậm, cản trở lưu thông. Bà căi nhau với ông cảnh
sát :
“ Lái xe
chưa quen th́ phải chạy chậm chớ. Ngày trước khi mới tập lái
xe, ông cũng phải chạy chậm như tôi, tại sao lại phạt tôi ?
” .
Ông cảnh
sát lịch sự nói :
“ Nếu
chưa lái xe quen, th́ tập cho quen, rồi hăy ra đường. Làm
cản trở lưu thông th́ phải bị phạt ”.
Bà không
bằng ḷng, và nhất định không chịu nộp phạt, v́ bị xử ép.
Mấy lần ông An định viết ngân phiếu trả tiền phạt, nhưng bà
cản lại và làm ồn ào. Bà nói:
“ Tôi
không nộp phạt, xem chúng nó làm ǵ tôi. Ức hiếp người ta
vừa thôi chứ ? ” .
Ông An
giải thích:
“ Không
nộp tiền phạt th́ ṭa án ra trát truy tầm, và khi t́m gặp,
th́ có thể bị c̣ng tay, ở tù ”.
Bà sừng
sộ:
“ Làm ǵ
mà c̣ng tay, đây là xứ tự do, đâu phải là xứ cọng sản, mà
muốn bắt tù ai cũng được sao ? ”.
Biết
không giải thích cho vợ được, ông An nhờ bạn bè giải thích,
nhưng bà An cũng nghe, cười chứ không tin. Ông An phải dấu
bà, mà kư ngân phiếu trả tiền phạt. Sau nầy, bà biết được,
bà khóc lóc và nhiếc mắng ông :
“ Thứ
chết nhát, thế mà cũng từng chỉ huy, từng ra trận. Chắc ngày
xưa ra trận nghe súng nổ là chạy dài, bỏ cả quân sĩ ” .
Nghe vậy,
ông An nóng mặt, chỉ thẳng vào bà mà nói :
“ Bà im
đi, vừa phải thôi. Hết chịu nổi rồi, tôi cho mấy đấm rồi ra
sao th́ ra ” .
Bà An sợ,
bỏ đi và lầm bầm :
“ Đừng
dở thói vũ phu, không được đâu. Kêu cảnh sát c̣ng tay cho
mới tởn ”.
Ông An
nóng giận mà nói, nhưng nói xong th́ ông thấy ḿnh lỡ lời,
và biết có nói dịu dàng th́ bà cũng chẳng nghe. Ông chỉ thở
dài.
Suốt
thời trai trẻ, ông An măi lo việc chinh chiến, vào sinh ra
tử, không có th́ giờ nghĩ đến việc lập gia đ́nh. Tốt nghiệp
trường sĩ quan chuyên nghiệp, gia nhập binh chủng nhảy dù,
chỉ huy một tiểu đoàn thiện chiến. Nơi đâu chiến sự nóng
bỏng, chết chóc, nguy hiểm, khó khăn, th́ nơi đó tiểu đoàn
của ông được vận chuyển đến tham chiến. Kỷ
luật là sức mạnh quân đội, ông tin thế, và thi hành kỷ
luật như một tín điều sùng bái. Nhờ đó mà quân sĩ dưới quyền
bớt hao hụt, bớt chết chóc v́ sơ sót, chểnh mảng.
Ông An vui vẻ, nhưng khó tính, và khi nói chuyện th́ như gầm
gừ, như ra lệnh cho thuộc cấp thi hành chỉ thị.
Khi miền
Nam thua trận sắp sụp đổ th́ ông đang nằm dưỡng thương tại
bệnh viện. Chưa b́nh phục, nhưng ông cũng xin ra tiền tuyến
chiến đấu. Rồi may mắn, ông chạy thoát được ra biển sau khi
Tổng Thống tân nhậm của miền Nam tuyên bố đầu hàng.
Ông đến
Mỹ, ngoài nỗi buồn tha hương, ông c̣n ấm ức v́ cuộc chiến
thất bại như một tṛ chơi ngu xuẩn lạ lùng. Không đánh mà bỏ
chạy tán loạn rồi tan hàng, thua trận. Nhiều đêm, ông không
ngủ được, ngồi bên thềm hút thuốc lá trong sương lạnh cho
đến khi trời sáng, thay áo quần đi làm luôn. Ở sở, ông làm
việc chăm chỉ, giỏi, năng suất cao, và sản phẩm có chất
lượng.
Những
ông chủ th́ thích ông lắm, v́ làm ra tiền cho họ, nhưng
những người chỉ huy trực tiếp th́ ghét ông cay đắng, v́ ông
sẵn sàng gây gổ nếu thấy bị ép, sẵn sàng thôi việc nếu không
bằng ḷng cách đối xử. Nhiều người bà con, bạn bè khuyên ông
nên lập gia đ́nh, cho đời sống tha hương bớt cô đơn buồn tẻ,
và có niềm an ủi trong cuộc đời. Người anh rể nói đùa:
“ Có gia
đ́nh, th́ không c̣n th́ giờ nghĩ đến chuyện đại sự, chỉ lo
đối phó với bà vợ thôi cũng đă hết th́ giờ, hết tâm trí, th́
giờ đâu mà nghĩ đến nỗi đau thất trận chạy dài. Có gia đ́nh
là yên ổn hết. Chuyện đă qua rồi, không lật trở lại được,
th́ quên đi mà sống ”.
Nhiều
người giới thiệu các cô gái của bà con, bạn bè cho ông . Ông
không chọn nhan sắc, ông không chọn giỏi dang, cũng không
chọn người ăn nói khôn ngoan khéo léo. Ông chọn một cô hiền
lành, vui vẻ. Cô nầy khi nào cũng nhắm mắt cười và tin cả
những điều ngây ngô.
Ông An
lư luận rằng, người ngu một chút th́ dễ dàng có hạnh phúc,
dễ ḥa thuận và ít lư sự. Vợ khôn quá, th́ chỉ tổ cho vợ
chồng tranh đua, căi nhau suốt ngày, khẩu chiến dằng dai,
chẳng được ǵ.
Theo
kinh nghiệm ông biết qua gia đ́nh bạn bè, th́ có rất nhiều
bà t́m cách lấn lướt chồng, nay lấn một chút, mai lấn thêm
chút nữa, và lấn măi, lấn măi cho đến khi ông chồng mềm như
con bún thiu, như tấm mền rách, không c̣n sức đối kháng. Bà
vợ cứ thế mà chỉ huy, mà gay gắt sai bảo, mà quyết định
nhiều điều phi lư, không cần ư kiến ai.
Khi đó,
chồng không c̣n chút quyền hành nhỏ nhoi nào trong cái gia
đ́nh “ chuyên chính ” ấy cả. Những người chồng yếu đuối ở
thế hạ phong nầy, thường được bên nhà vợ khen là hiền lành,
dễ thương, và con gái họ tốt phước, lấy được chồng hiền khô.
Nhưng
bên gia đ́nh của chính các ông, th́ ông bị chê bai là sợ vợ,
bạc nhược, hèn nhát, đội vợ lên đầu, không đáng làm đàn ông.
Cùng một người, mà mỗi bên đánh giá mỗi cách, hoàn toàn khác
biệt. Với suy tư và kinh nghiệm trong cuộc sống, ông An chọn
cho ông một người bạn đường ‘ hơi quê một chút, hiền lành và
hơi dại một chút ’, th́ sẽ hợp với cái tính quen chỉ huy của
ông. Nhưng ông lầm.
Mỗi năm
sau khi làm tờ khai thuế xong, là ông An phải năn nỉ, thuyết
phục ráo riết để bà kư vào mà gởi đi . Có lần bà không chịu
kư, ông phải làm đơn xin gia hạn. Bà thường lên giọng hạch
hỏi:
“ Mục
nầy là mục ǵ ? Ở đâu ra ? Có giấy tờ ǵ chứng minh không
?”.
Ông phải
dở bản hướng dẫn khai thuế, t́m, và chỉ cho bà cái con số bà
muốn biết ở đâu ra. Thế nhưng có khi bà cũng cho rằng, ông
không hiểu hết ư nghĩa của đoạn hướng dẫn nầy. Ông chịu thua.
Bà thường đưa lư do:
“ Mọi
người đều lấy lại tiền thuế rất nhiều, mà tại sao ḿnh không
lấy về được. Anh không biết khai thuế. Khai thuế dở . Anh
khai làm sao lấy được nhiều tiền thuế về, th́ tôi mới kư ” .
Bà xem
chuyện kư vào tờ khai thuế là một ân huệ dành cho ông. Ông
An cố gắng giải thích, nhưng bà không chịu hiểu, và cố t́nh
không hiểu. Ông chỉ ôm đầu mà than :
“ Ngu
quá trời ơi. Sao mà ngu đến thế được ? ”.
Nghe thế,
bà An chồm lên gây gổ ồn ào như vợ chồng sắp đến hồi li dị,
xa nhau. Một lần, bà nghe theo lời bạn, bảo ông chở qua
thành phố lân cận nhờ khai thuế, trong buổi chiều ngày cuối
cùng của hạn nộp thuế, ông chở bà đến cơ sở khai thuế, ngồi
xếp hàng chờ, có cả chục người, chờ cho đến khuya. Ông khai
thuế đọc sơ tờ nháp của ông An rồi nói :
“ Khai
được như thế nầy th́ cần chi phải nhờ đến tôi ? Tôi đâu có
làm chi hơn được cho ông đâu ”.
Ông An
nói :
“ Nhờ
ông nói cho bà xă tôi rơ ”.
Bà An
nói lớn :
“ Ông
nhà tôi không biết khai thuế, người ta ai cũng lấy thuế về
nhiều, c̣n chúng tôi có năm phải đóng thêm, thế th́ không
tức sao được ”.
Từ đó,
ông An t́m ra phương sách tránh rắc rối, là không tự khai
thuế nữa, dẫn vợ đến các nơi dịch vụ khai thuế, tốn mấy chục
đồng, mà được yên ổn. Thế mà cũng có khi bà Hoa không chịu,
bà t́m đến nơi khác nữa, nhờ khai lại, xem có lợi thêm được
chút nào không, khi tốn thêm tiền, bà lại cáu bẵn và gắt
gỏng ông:
“ Chỉ
tại anh dở, không biết khai thuế đúng cách nên phải tốn tiền.
Người ta ai cũng lấy về khối tiền thuế, trong lúc ḿnh lại
phải trả thêm.”
Mỗi khi
xe hư hay trong nhà điện nước có vấn đề, là ông An khổ tâm
lắm. Dụng cụ như búa, kềm, khóa mở đinh ốc không có. Bà
không chịu để cho ông mua. Những lúc nầy, ông phải dùng dao,
dùng kéo để cạy, để vặn mà sửa chữa, vừa khó khăn vừa không
làm được. Ông chỉ giận và than một ḿnh :
“ Ngu
quá, ngu quá ” .
Bà lấy
lư do là điện nước và xe không phải hư hỏng thường xuyên, và
những thứ dụng cụ đó không cần thiết để phí tiền mua. Một
lần ông lén mua một hộp dụng cụ, gồm một ít đồ tối thiểu, bà
biết được, bèn khóc lóc, gây gổ, nhịn ăn, và buộc ông phải
đem trả lại.
Thái độ
bà khăng khăng làm ông phải nhượng bộ cho yên nhà yên cửa.
Ông cũng buồn, v́ không có dụng cụ, không tự sửa chửa được
những hư hỏng lặt vặt trong nhà. Và dù thuở nhỏ học trung
học kỹ thuật, ông cũng dần dà trở nên kém cỏi, vụng về, ít
hiểu biết về bệnh xe, sửa chữa điện nước thông thường.
Ông anh
bà An biết em ḿnh dại mà không khuyên bảo được, mua tặng
cho ông An một hộp đồ nghề trong mùa
Giáng
Sinh,
gồm các loại khóa mở đinh ốc, kềm, búa. Ông An mừng như bắt
được thùng vàng. Những khi ông An sửa chữa hư hỏng lặt vặt
trong nhà, th́ bà đứng bên cạnh xem, và bảo ông phải làm thế
nầy, phải làm thế kia. Vặn ốc chiều nầy, dùng cây kềm kia.
Dù bà không biết, không hiểu, nhưng cũng chỉ chỏ hướng dẫn
và ra lệnh. Khi ông không làm theo lời bà , th́ bà bảo rằng:
“ Anh
hay chống đối, hay làm ngược lại những ư kiến của tôi ”.
Đôi khi
bực quá ông gắt :
“ Không
biết th́ để tôi làm. Không biết mà cứ ưa làm thầy người
khác, ưa dạy điều tào lao. Mười chuyện không làm theo lời bà
một chuyện là chống lại bà. Chống bà th́ tôi được cái khỉ ǵ
? Bà biết làm th́ xắn tay vào làm đi ”.
Ngay cả
rửa chén bát, bà cũng đứng bên cạnh để chỉ huy, phải rửa cái
nầy trước cái kia sau, phải vặn nước nóng, nước lạnh . Ông
bực lắm, hai môi bặm lại, mặt cứ gầm gầm như sắp đánh đấm
với ai.
Những
khi vợ chồng vui vẻ, ông kể chuyện vui cho bà nghe, có khi
bà hiểu lầm ông ám chỉ bà. Thế là khóc lóc, căi vả, và phun
ra nhiều câu hỗn láo khó nghe. Những khi gặp khó khăn phiền
toái của ông ở sở, ông cũng không hề dám kể lể, tâm sự cùng
bà
để
chia sớt, để bàn căi. Nói cho bà biết, th́ chỉ có bị xỉ vả
nặng lời, bị cho là dại, kém, ngu.
Nhiều
lúc ông giận cành hông, đập tay vào tường rầm rầm. Ông có
khẩu súng mua từ khi chưa lập gia đ́nh, ông tháo ra, và đem
quăng xuống hồ sâu. Ông sợ có ngày không kềm được cơn giận
mà bắn ẩu.
Mỗi lần
bà xem được quảng cáo trên truyền h́nh hoặc trên báo, thấy
hàng bán rẻ là bà yêu cầu ông chở đi mua. Chỉ v́ lợi được
một đồng bạc cho mấy cuộn giấy đi cầu, mà phải lái xe xa cả
tiếng đồng hồ, tốn hết cả chục bạc tiền xăng, chưa kể hao
ṃn xe, chưa kể mất luôn cả nửa ngày công, nhưng bà cũng
quyết đi cho được, và hớn hở v́ tiết kiệm được một vài đồng.
Ông cố gắng giải thích cho bà nghe, mà bà không chịu hiểu,
và không muốn hiểu. Riết rồi ông không cần giải thích
nữa, cứ phí thời gian, phí tiền bạc, nhưng khỏi phải lư
giải, tŕnh bày khó khăn.
Từ ngày
lấy vợ, ông mất dần gần hết bạn bè. Bà cho rằng đàn ông gặp
nhau nói toàn chuyện trên trời, dưới đất, không bổ ích ǵ,
không lợi lộc ǵ. Bà ngăn cản ông gặp bạn bè, và bạn bè đến
nhà ông, th́ chỉ vài lần thôi, thấy thái độ của bà, họ không
đến nữa.
Ông An
cũng tự an ủi ḿnh, hạnh phúc gia đ́nh là ưu tiên chính yếu,
làm sao giữ cho êm ấm, phẳng lặng. Bà hạn chế tối đa việc đi
ăn đám cưới. Bà thường nói:
“ Tại
sao phải đi đám cưới con bạn bè ? Chúng nó có biết ḿnh là
ai đâu mà có biết đi nữa, th́ việc ǵ mà phải tốn tiền cho
chúng. Chúng nó lấy chồng lấy vợ cho chúng nó, ḿnh mắc mớ
ǵ mà phải đi và cho tiền mừng ” .
Ông nói
với bà:
“ Mai
đây, con ḿnh nó lấy vợ lấy chồng, th́ ai mà đi đám cưới đây
? ”
Bà bảo :
“ Tôi
không cần ai cả. Con ḿnh c̣n nhỏ, chuyện ấy c̣n xa vời ” .
Ông mượn
cho bà một số sách dạy về xă giao, cách sống ở đời, bà không
đọc mà nói :
“ Những
thứ nầy, ai không biết, mà phải viết sách cho tốn kém, mất
th́ giờ ”.
Những
khi đi ăn tiệm, bà tiếc tiền không ăn, và chỉ ăn một phần do
ông sớt cho. Thường ông kêu món ǵ, bà cũng bảo là đừng ăn
món đó, v́ dở, và bà ép ông phải ăn theo món bà đề nghị. Ông
bực ḿnh hỏi:
“ Thứ
nhất, anh ăn món nầy hay em ăn, thứ hai là em đă ăn món nầy
tại đây chưa mà cho là dở ? Thứ ba tại sao em bắt anh phải
ăn món mà anh không ưa thích ? ”.
Bà giận
nói :
“ Anh
chỉ thích kêu món đắt tiền mà chưa biết là ngon hay dở. Anh
thường ưa phung phí tiền bạc.”
Khi mua
bảo hiểm xe, th́ bà nhất định chọn loại bồi thường thấp
nhất, và khi xe có một vết trầy trụa nhỏ, th́ bà dục ông kêu
bảo hiểm yêu cầu bồi thường. Ông giải thích là hư hỏng dưới
mức chi phí ḿnh phải chi ra. Bà giận dỗi nói :
“ Thế
th́ mua bảo hiểm làm chi. Tôi sẽ kêu bảo hiểm, và anh sẽ
thấy họ bồi thường cho anh xem ”.
Bà kêu
điện thoại báo cho công ty bảo hiểm, họ giải thích, và bà
nhất định không chịu hiểu, cho rằng hăng bảo hiểm lừa gạt .
Bà dọa sẽ kiện ra ṭa, và buộc ông An đi t́m hăng bảo hiểm
khác, thật thà hơn.
Một lần
ông An đọc báo, viết về nhưng người trúng số độc đắc, kể cho
bà nghe làm vui. Có câu chuyện một ông làm ở Đại học
Berkeley, trúng năm triệu đồng, ông cho nhà trường một
triệu, mua cho bà vợ một món nữ trang 50 ngàn đồng. Năm năm
sau, hai vợ chồng ly dị. Bà An chồm lên mà xỉa xói :
“ Trúng
5 triệu lại cho trường đại học hết một triệu, mà chỉ cho vợ
món nữ trang 50 ngàn thôi. Trúng là phải chia đôi chứ. Con
người bần tiện như thế, th́ bỏ đi là phải.”
Rồi bà
đi theo ông mà mắng mỏ, cằn nhằn măi. Ông bỏ ra vườn xới mấy
gốc cây cho khỏi bực cái con ráy. Bà chạy theo ra, và tiếp
tục than thở. Ông nh́n bà mà nói :
“ Có
phải anh trúng năm triệu đâu mà em cứ hành hạ anh măi thế.
Anh mà trúng năm triệu th́ e em giữ hết, không biết anh có
giữ lại được năm trăm để thù tiếp bạn bè không. Em có muốn
than văn, cằn nhằn, th́ nhờ người đưa lên Berkeley mà cằn
nhằn ông kia. Rồi ông ta kêu cảnh sát c̣ng tay cho v́ tội mạ
lỵ vô cớ.”
Bà An
bỗng quay lại hỏi :
“ Kỳ nầy
anh có mua một vé số phải không ? Đâu rồi ? Đưa cho tôi
xem.”
Ông An
bảo là để trong ví, bà muốn xem th́ vào lục quần ông mà xem.
Bà nằng nặc đ̣i ông phải đi lấy tấm giấy số cho bà xem. Ông
An nói là đang lỡ
tay làm đất, nó c̣n đó, không mất đâu mà sợ. Bà cứ nằng nặc
quấy rối, ông phải rửa tay, đi lấy tấm giấy số giao cho bà.
Xem tờ vé số, bà khóc gào lên :
“ Anh
định nếu trúng th́ lănh lấy một ḿnh, hay bỏ trốn mẹ con tôi
phải không? Tại sao mặt sau tấm vé số không ghi tên anh và
tên tôi. Tôi biết mà, đàn ông bội bạc lắm. Giàu đổi vợ sang
đổi bạn. Âm mưu của anh không dấu được tôi đâu.”
Rồi bà
khóc lóc, kể lể, gán cho ông những lời khó nghe. Ông đến gần
bà bảo:
“ Đâu,
em đưa tấm vé số đây, anh ghi tên vào.”
Ông lấy
tấm giấy số trên tay bà, xé vụn, ném vào gốc cây. Bà thét
lên:
“ Anh
không có quyền xé đi. Tiền nầy là tiền chung, anh không có
quyền ǵ cả ”.
Bây giờ
th́ đă muộn, ông An mới hiểu rằng, vợ hiền và vợ dại hoàn
toàn khác nhau. Người hiền không chắc đă dại, người ta có
thể vô cùng khôn ngoan hiểu biết, nhưng hiền lành. C̣n người
dại thường bị xét đoán lầm là người hiền. Dại, và thiếu hiểu
biết, cộng
lại thành một loại người khó thông cảm, khó ḥa đồng cùng
nhân quần xă hội.
Quá trễ
rồi, ông An đành chịu thua tất cả, để giữ cho cái hạnh phúc
gia đ́nh mong manh nầy. Để cho các con khỏi phải khổ. Mặc
gia đ́nh, bà con bạn bè chê trách ông không biết cách cư xử
với vợ. Họ không dám dùng chữ “dạy vợ”, sợ các bà nghe được,
nổi máu tam bành lên th́ lôi thôi lớn. Một người bạn trêu
ông An sửa câu nói “ Dạy con từ thuở c̣n thơ, dạy vợ từ thuở
bơ vơ mới về ” thành câu “ Lạy con thuở c̣n thơ, lạy vợ từ
thuở bơ vơ mới về ”.
Ông An
ráng giữ sao cho gia đ́nh càng ít sóng gió càng tốt. Ông
không có hy vọng chuyển hóa được bà, chịu thua, và tự quy
lỗi cho ḿnh, đă xét đoán sai. Bây giờ th́ chỉ cố gắng làm
sao cho gia đ́nh yên ổn, cho con cái yên tâm sống trong hạnh
phúc ít oi đó. Ông thường nói với những đứa cháu nhỏ sắp lập
gia đ́nh :
“ Đừng v́ một khuôn mặt
đẹp mà lấy nhầm bà vợ ngu. Khốn đốn và bất hạnh như xuống
thấu địa ngục vậy ”.