Nữ Tu La San Việt Nam
1. Tóm tắt Tiểu Sử của vị Sáng Lập, SH. Bernard Lê-văn-Tâm, fsc
SH. Tâm sinh ngày 19/7/1921 tại Di Loan, Trung phần Việt Nam, và gia nhập Ḍng
La San tại Nha Trang ngày 29/6/1933, khấn hứa lần đầu ngày 2/2/1940. Sau năm
kinh viện, SH khởi sự việc tông đồ tại chuẩn viện-Nha Trang. SH. tuần tự được
thuyên chuyển về Saigon rồi Mỹ Tho. Sau đó, các đấng bề trên đă cho phép SH đi
du học tại thành phố Lille, nước Pháp, và tiếp đến được tham dự khóa huấn luyện
Nhà Tập Thứ Hai tại Rôma, tứ tháng 9/1953 đến tháng 6/1954.
Khi trở về nước, SH được bổ nhiệm đến kinh viện - Nha Trang. Năm 1956, SH được
bổ nhiệm làm Thầy Phó và giáo sư tại một trường quan trọng : Taberd - Saigon.
Năm 1957, SH được bổ nhiệm làm bề trên trường Taberd trong 3 năm. Đến 1960, SH
được bở nhiệm làm giám tỉnh và điều khiển tỉnh ḍng Saigon cho đến 1969. Chính
trong thời gian này mà SH nhận thấy cần nhiều giáo viên dấn thân cho các lớp
tiểu học. Hơn nữa, nhiều thanh thiếu nữ làm việc cho các trường La San mà SH có
dịp gặp trong những lần thăm viếng mục vụ đă ngỏ ư dấn thân vào đời tu dựa trên
căn bản linh đạo La San.
Sau một năm dạy tại trường Adran - Đà Lạt, SH trở về Mai Thôn, Saigon, để lo cho
một nhóm thanh thiếu nữ. Sơ Martha, một nữ tu ḍng Chúa Quan Pḥng, vừa là bề
trên cộng đoàn và là giáo tập, giúp đỡ SH trong công việc này. Tổng giám mục
Saigon cho phép thành lập cộng đoàn "để thử nghiệm". SH Tâm đặc biệt lưu ư đến
việc huấn luyện các nữ tu La San, tuy nhiên không bỏ quên việc học văn hoá và sư
phạm. SH gởi họ theo các lớp thần học tại Viện Giáo Lư của địa phận Saigon.
Năm 1974, với sự khuyến khích của tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn B́nh, SH khởi
sự làm thủ tục thành lập ḍng Nữ Tu La San như là một ḍng địa phận tại Saigon.
Những biến cố 1975 nga7n cản SH Tâm tiến hành những giai đoạn kế tiếp.
SH gởi từng nhóm nữ tu sĩ và nữ tu sinh đến Hoa Kỳ, SH cũng đến Hoa Kỳ cùng với
nhóm cuối cùng, và cư trú tại Joaquin Memorial High School, thành phố Fresno,
California.
SH Tâm được Anh Em bầu làm đại diện cho tỉnh ḍng Saigon đi tham dự Tổng Công
Hội của ḍng tại Rômanăm 1976.
V́ những khó khăn gặp phải trong công việc với các nữ tu La San, SH làm đơn xin
ra khỏi ḍng vào tháng 8 năm 1976. Hiện nay, SH làm việc cho một họ đạo Việt Nam
tại Denver, Colorado, trong tư cách là thầy sáu.
2. Lịch sử sự thành lập Ḍng Nữ Tu LaSan từ khởi thủy.
Nguồn gốc và Nguyên nhân.
Hai nguyên nhân chính đă dẫn đưa SH Bernard Lê Văn Tâm, fsc, đến sự thành lập
Ḍng Nữ Tu La San.
Trước hết, SH nhận thấy rằng quá ít tu sĩ giáo sư cho các lớp tiểu học trong các
trường của các Sư Huynh.
Thêm vào đó, một số thanh thiếu nữ giáo viên dạy trong những trường của các Sư
Huynh ngỏ ư ước muốn dâng ḿnh cho Chúa theo một lối sống tu ḍng dựa trên căn
bản linh đạo La San. Điều này gợi cho SH ư định thành lập một ḍng tu song song
với ḍng các Sư Huynh Trường Ki-tô (Ḍng La San).
Hơn nữa, khi c̣n làm giám tỉnh Tỉnh Ḍng Saigon, SH Tâm có dịp đi thăm viếng
những trường của các Sư Huynh tại phụ-Tỉnh Thái Lan. Tại đây cũng vậy, SH nhận
thấy thiếu nữ tu để giúp các Sư Huynh trong việc giảng dạy cho các lớp tiểu học
và quán xuyến điều hành công việc văn pḥng, và thiếu ơn gọi La San.
3. Tại Việt Nam
* Cộng Đoàn Mai Thôn, Saigon.
Khởi sự.
Trong 9 năm làm giám tỉnh (1960-1969), SH Tâm liên lạc với những ứng sinh khả dĩ
làm nồng cốt cho nhà ḍng tương lai, và chuẩn bị họ vào đời tu bằng những cuộc
hội họp, thảo luận, vv.
Sau nhiệm kỳ làm giám tỉnh, SH Tâm gom tụ các ứng sinh đến một cơ sở của trường
Taberd ở ngoại ô Saigon tại Thị Nghè tên là Mai Thôn. Chính tại đây mà cộng đoàn
tiên khởi của Nữ Tu La San được thành lập. Lúc bấy giờ có khoảng 20 thành viên.
Một thời gian ngắn sau đó, tổng giám mục Saigon cho phép nhóm này thành lập "để
thử" như một cộng đoàn tu sĩ.
SH Michael Jacques, lúc bấy giờ là phụ tá Tổng Quyền đặc trách vùng Á Đông, chấp
thuận sáng kiến này, và yêu cầu SH giám tỉnh Saigon chỉ định thâm vài Sư Huynh
để giúp đỡ SH Bernard Lê Văn Tâm.
SH Tâm lập chương tŕnh huấn luyện cho các nữ tu tương lai với một nhóm các Sư
Huynh có đời sống thiêng liêng sâu sắc, và với sự giúp đỡ của Sơ Martha, một nữ
tu thuộc ḍng Chúa Quan Pḥng, trong phận vụ làm giáo tập và bề trên cộng đoàn.
Một trường nhỏ cho trẻ em được mở ra ngay bên cạnh tu viện. Tiếp đến, một trường
khác cũng được mở tại Quảng Biên; trường này cho các em nhỏ, con của những gia
đ́nh công giáo di cư từ miền Bắc vào sau khi nước Việt Nam bị chia hai theo hiệp
định Geneva năm 1954. Một trường thứ ba được mở tại Đà Lạt, và đồng thời làm nhà
huấn luyện cho các em ứng sinh.
Số thành viên tăng. Vào năm 1975, nhà ḍng trẻ có được 30 Sơ khấn tạm, 9 tập
sinh, 21 thỉnh sinh và 20 ứng sinh, rải rác trong 3 cộng đoàn : Mai Thôn,
Saigon; Quảng Biên, Hố Nai; và Đà Lạt.
Năm 1974, với sự khuyến khích của tổng giám mục Saigon, SH Tâm nộp đơn cho tu
hội các Sơ được chính thức công nhận như là một Ḍng địa phận tại Saigon.
Biến cố chính trị áp đặt trên toàn cơi Việt Nam (Saigon thất thủ ngày 30 tháng 4
năm 1975) đă ngăn chận mọi bước xúc tiến thực hiện vấn đề này. Những biến cố đó
c̣n gây nên sự tan ră hầu như toàn bộ của nhà Ḍng trẻ, ngay chính lúc nhà Ḍng
có dấu hiệu đang phát triển nhanh chóng. Một số Sơ trở về với gia đ́nh cho "chắc
ăn". Một số nhóm nhỏ cương quyết ở lại với nhà Ḍng đă chuẩn bị vượt biển.
Khi t́nh thế tương đối ổn định, cộng đoàn gồm có 20 Sơ khấn, 7 tập sinh, 10
thỉnh sinh và 9 ứng sinh.
* Những năm băơo tố (1975-19780)
Đây là thời gian khó khăn nhất cho cả đất nước cũng như cho nhà Ḍng. Bị cắt mọi
nguồn tài trợ và ngay cả sự tài trợ thường xuyên của các Sư Huynh, v́ chính bản
thân các Sư Huynh cũng phải chiến đấu để sống c̣n trong cơn băo tố, nhà Ḍng
buộc phải chia cộng đoàn thành những nhóm nhỏ để sinh tồn.
Năm 1976, một cộng đoàn gồm 3 Sơ được thành lập ở Cần Giờ, nhằm phụ giúp linh
mục chánh xứ. Sau một năm, các Sơ trở lại Saigon v́ linh mục chánh xứ đă cạn
nguồn tài trợ.
Năm 1977, một cộng đoàn gồm 6 Sơ được thiết lập ở Tân Cang, ngay trong cơ sở của
các Sư Huynh. Cộng đoàn làm rẫy để sinh sống và giúp đỡ các Sư Huynh.
Cũng trong năm 1977, một nhóm 6 Sơ đến lập nghiệp tại họ đạo Hoà Long, tỉnh
Sadec. Đây là cơ sở tông đồ mà các Sơ thích nhất, v́ các Sơ có thể làm tông đồ
một cách tích cực hơn trong việc thay thế linh mục chánh xứ vắng mặt. Các Sơ dạy
giáo lư, làm việc đồng áng và may vá áo quần để bán cho những người công giáo
trong họ đạo. Sau 6 năm, bề trên nhà Ḍng chuyển các Sơ về lại Saigon v́ vị bề
trên nhận thấy rằng tinh thần tu tŕ của cộng đoàn Hoà Long sa sút.
Trong những năm đầu sau biến cố 75,
các Sơ thường làm ruộng,
làm rẩy để nuôi thân và nuôi cộng đoàn...
Ư định chia các Sơ thành những nhóm nhỏ là để đáp ứng nhu cầu vật chất trong
hoàn cảnh thực tại. Tuy nhiên, phần đồng các Sơ c̣n quá trẻ để có thể sống trong
những nhóm nhỏ mà không có sự nâng đỡ của các tu sĩ có nhiều kinh nghiệm và đă
cố định trong ơn gọi của ḿnh.
Cuộc sống tại Mai Thôn cũng không phải dễ dàng ǵ. Ở đâu cũng vậy : không thiếu
ơn gọi. Nhà tập tiếp tục đón nhận tập sinh trong 3 năm liền, với 10 tập sinh năm
1976, 4 trong năm 1977, và 5 trong năm 1978. Thật là một sự an ủi lớn lao cho
các Sơ khi nhận ra đó là dấu hiệu của t́nh Chúa thương yêu.
Các Sư Huynh t́m giờ rảnh để giúp đỡ các Sơ về mặt trí thức, tinh thần và thiêng
liêng. Phần vật chất th́ các Sơ luôn luôn túng thiếu v́ hầu hết các công việc
đều làm bằng tay nên của ăn hằng ngày toàn là ... khoai lang.
Tóm lại, trong ba năm 1975-1978, các việc thiêng liêng như kinh sáng và kinh tối,
nguyện gẫm, thánh lễ, lần hạt và đọc sách thiêng liêng, đều làm chung trong cộng
đoàn. Các Sơ đều đặn nghe giảng dạy, tĩnh tâm hàng tháng, và tĩnh tâm hàng năm
trong suốt 5 ngày. Nhà tập th́ diễn tiến đều đặn : tập sinh học Kinh Thánh, (bí
mật) theo học các khoá huấn luyện, lập lại lời khấn, vv.
Về việc tông đồ, một số Sơ dạy lớp ban tối trong khi một số khác (bí mật) dạy
giáo lư.
Dưới sự ép buộc của chính quyền, các Sơ đă "tự nguyện" dâng hiến trường cho nhà
nước. Từ đó trở đi, việc tông đồ của các Sơ phần chính là chứng tá của đời tận
hiến, đời sống đức tin vào Thiên Chúa, ngay giữa ḷng dân tộc của họ.
* Những năm 1979 - 1988
T́nh thế càng ngày càng căng thẳng hơn. Các ḍng tu không được dung tha. Lục xét
và tù tội đă áp đảo tinh thần các tu sĩ nam nữ.
Chính sách "hộ khẩu" là phương tiện hữu hiệu mà công an dùng để kiểm soát hầu
như toàn diện mọi sự di chuyển của dân chúng. Mỗi gia đ́nh phải có một "hộ khẩu"
trong đó ghi tên, ngày và nơi sinh của mỗi thành viên. Bất kỳ người nào bị t́m
thấy sinh sống trong một gia đ́nh mà không có tên tuổi trong "hộ khẩu" của gia
đ́nh đó đều bị theo dơi và có thể bị tù. Thực tế mà nói, hầu như không thể thay
đổi tên tuổi trong "hộ khẩu" này, v́ thế không thể thuyên chuyển các tu sĩ từ
nhà này đến nhà khác, hoặc thêm bớt các tu sinh mới.
Trong khoảng năm 1979 - 1988, các nữ tu La San có hai cộng đoàn: Mai Thôn và
T́nh Thương ở Hố Nai. Cộng đoàn T́nh Thương chỉ có hai Sơ v́ sự ràng buộc của "hộ
khẩu". Đến năm 1980, các Sơ rời khỏi T́nh Thương và đi làm việc tại một chỗ khác,
vào sâu trong rừng hơn. Tại đây, đất có vẻ ph́ nhiêu. Sau những giờ giảng dạy,
các Sơ có thể làm việc đồng áng, trồng hoa, đậu, bắp, vv.
Trong suốt 10 năm, không thâu nhận một thành viên mới vào cộng đoàn tu sĩ. Thật
ra v́ thiếu ngân khoản và trợ cấp, và không có ban huấn luyện, và nhất là v́ hệ
thống "hộ khẩu".
Tuy nhiên, đến năm 1988, các Sơ đă đón nhận được 2 ứng sinh vào đời tu.
Lễ nhận lănh Áo Ḍng
lần đầu tiên sau hơn 13 năm...
Sau khi đă "tự nguyện" dâng cho Nhà Nước cơ sở tông đồ duy nhất của ḿnh, các Sơ
rút lui về tu viện; ở đây, các Sơ sống cộng đoàn một cách thiết thực hơn, học
hỏi và cùng nhau cảm nghiệm hơn về ư nghĩa ơn gọi làm Nữ Tu La San của ḿnh. Vài
ba Sơ đă ít nhiều đặt nghi vấn về tương lai và sự lựa chọn vào lối sống đời tu
theo ơn gọi này.
Khi cộng đoàn có thể gom tụ hơn 100 trẻ em từ những giáo xứ lân cận đến học giáo
lư và sinh hoạt, các Sơ đă t́m lại được can đảm và phấn khởi vững tin hơn vào
công việc tông đồ giáo dục của ơn gọi.
Trong suốt 7 năm, các Sơ âm thầm giảng dạy giáo lư và chuẩn bị cho các trẻ em
nhận lănh các bí tích hoà giải, Thánh Thể và thêm sức. Nhưng sau đó, chính quyền
đă yêu cầu các Sơ ngưng các sinh hoạt "phản động" này.
Năm 1988, các Sơ dạy khoảng 60 trẻ em. Một hay hai Sơ dạy cho người tân ṭng, và
trong năm đó, có đến 92 người lớn nhận bí tích rửa tội. Ngoài những sinh hoạt đó,
các Sơ c̣n chăm sóc giúp đỡ và nấu ăn cho các Sư Huynh cao niên tại nhà hưu
dưỡng Mai Thôn. Qua h́nh thức tông đồ đặc biệt này, các Sơ muốn tỏ ḷng biết ơn
đối với các Sư Huynh trong tinh thần Đại Gia Đ́nh La San, v́ quả thật, Gioan La
San là Đấng Sáng Lập cả hai ḍng. Các Sơ t́nh nguyện phục vụ giúp đỡ các Sư
Huynh cao niên một cách chân t́nh vui vẻ.
Về tài chánh.
Cho đến ngày hôm nay, ḍng Nữ Tu La San chưa hề mắc nợ hoặc vay mướn tiền bạc.
Các Sơ học đủ thứ nghề, tất cả đều thủ công nghệ, phù hợp với chủ trương mới của
chính quyền. Không có việc làm nào lâu bền, và mọi công việc đem lại lợi tức rất
ít ỏi. Việc đồng áng và trồng rau muống không đủ để đáp ứng những nhu cầu căn
bản cho các Sơ.
"Một con heo nái tậu được nhờ hồng ân của Sư Huynh quản lư đă đem lại cho chúng
tôi nửa tá heo con. Bán hết heo con cũng chỉ đủ có tiền sửa chữa xe đạp và sắm
các vật dụng vệ sinh cho cộng đoàn."
Những vật dụng khác th́ rất hiếm hoi. Mỗi năm, các Sơ ở California gởi cho chúng
tôi vài thùng quà, cũng chỉ đủ để thay đổi áo quần và mua thuốc men cho Chị Em.
Đôi lúc, các Sư Huynh chia sẻ cho các Sơ những món quà mà các Sư Huynh nhận được
từ Anh Em ở hải ngoại gởi về.
* Năm 1988 - 1989
Với sự giúp đỡ của Sư Huynh Giám Tỉnh, các Sơ đă có thể theo học các lớp triết
và Thánh Kinh, các lớp giáo lư tại đại chủng viện, và cùng lúc đó theo học các
lớp văn hoá và huấn nghệ.
Sự giúp đỡ của các Sơ ở California và Thái Lan đă cho phép các Sơ ở Mai Thôn
theo học chương tŕnh huấn luyện tạm đủ đối với thời buổi lúc đó. Một trong
những dự tính quan trọng nhất của các Sơ ở Mai Thôn là tái thiết tu viện hiện
tại. Tầng trệt của tu viện này, đến mùa nước lũ, bị ngập tràn hai lần mỗi ngày,
tùy theo con nước lên xuống của sông bên cạnh nhà.
Các Sơ ở Thái Lan đă không thể thăm viếng cũng như tiếp tế ǵ cho các Sơ ở Mai
Thôn một cách đều đặn như các Sơ mong ước : sự nghi ngờ, điều tra, khám xét này
nọ đă ngăn trở sự liên lạc kể cả bằng thư từ. Đến tháng Mười năm 1988, Sơ Mary
Chindahandamrong đă lần đầu tiên can đảm lướt thắng nguy hiểm để sang thăm viếng
Việt Nam, sau 13 năm vắng bóng (1975-1988).
Tháng Hai năm 1989, Nhà Ḍng triệu tập Tổng Công Hội lần thứ nhất. Tổng công hội
viên gồm có Sơ Theresa Sáng từ San Jose, California; Sơ Mary Ann Sunantha và
Mary Chindahandamrong từ Bangkok, Thái Lan; và các Sơ ở Mai Thôn, Saigon - Việt
Nam. Các Sơ đă chính thức nhận Ḍng Nữ Tu La San - Saigon. Cùng lúc đó, các Sơ
đă chọn Sơ Clara Vơ Thị Hoài Châu làm Tổng Quyền với nhiệm kỳ 3 năm (1989-1992).
Tháng 11 năm 1989, Sơ Mary Chindahandamrong và SH Joseph Văn Khôi đến thăm các
Sơ tại Mai Thôn. Tổng giám mục Saigon Paul Nguyễn Văn B́nh giao cho SH giám tỉnh
Maurice Nguyễn Phú Triều và SH Joseph Văn Khôi chứng từ xác nhận cộng đoàn Mai
Thôn là Nhà Ḍng trực thuộc địa phận Saigon.
Tháng 6 năm 1990, Sơ Mary Ann chuyển giao phần đóng góp của cộng đoàn Bangkok để
tái thiết tu viện tại Mai Thôn.
Ước vọng của các nữ tu La San ở Mai Thôn, cuối cùng, đă thành sự thật ngày 23
tháng 9 năm 1990 khi tu viện mới được chính thức khai trương. Hiện diện trong
ngày khai trương có các Sư Huynh, những đại diện các Ḍng Tu, giới phụ huynh và
thân hữu. Giám mục Paul Nguyễn Văn B́nh đi hội họp ở ngoại quốc, và chẳng may vị
giám mục phụ tá Nẫm lại bị tai nạn xe cộ nên không đến tham dự được. Mặc dầu thế,
"các Sơ rất vui mừng phấn khởi v́ có được cơ sở mới thật đúng lúc để thay thế
ngôi nhà cũ đă bị mối mọt gặm nhấm từ lâu..."
Đối với các nữ tu La San, việc tông đồ là điều tối cần thiết. Các Sơ mong ước mở
một vườn trẻ cho con em trong vùng, và trở lại với việc tông đồ mà các Sơ đă làm
trước thời "rắc rối", bằng cách dùng phần trước của tu viện để thay thế ngôi
trường mà các Sơ đă "t́nh nguyện" dâng cho nhà chức trách đương thời.
Liên lạc giữa các cộng đoàn ngày càng tương đối dễ dàng hơn,
Sơ Olivia Thanh từ San Jose - California
về quê Mẹ để tuyên khấn trọn đời.
4. Cộng Đoàn Nữ Tu La San tại San Jose, California, USA
Sau vụ chia đôi Việt Nam thành hai phần chiếu theo Hiệp Định Geneva năm 1954,
hơn một triệu người Công Giáo di cư từ Bắc xuống Nam Việt Nam. Nhiều nữ tu xuất
thân từ những gia đ́nh đă muốn trốn lánh chế độ độc tài miền bắc để được tự do
hành đạo và giữ vững niềm tin vào Đức Ki-tô và Giáo Hội của Ngài.
Nếu số đông các thành viên thuộc gia đ́nh La San Mai Thôn đă chọn lựa rời xa quê
hương, th́ cũng chỉ v́ hai lư do chính : được tự do giữ đạo và, trong trường hợp
đặc biệt này, được bền vững ơn gọi La San mà họ đang theo đuổi.
Hậu quả của những biến cố năm 1975 là : 23 thành viên của Ḍng Nữ Tu La San đă
rời Việt Nam đến định cư ở Hoa Kỳ. Trong số 23 thành viên đó, có 7 Sơ khấn trọn,
2 tập sinh và 11 ứng sinh. Một ứng sinh đă đi Pháp đoàn tụ với gia đ́nh ngay
trong thời gian đầu.
* Khủng hoảng tinh thần.
Toàn thể nhóm đă vượt biển mà không ai được chuẩn bị, và v́ thế mà diễn biến đă
dẫn đến sự lo âu về tương lai, cũng như khổ tâm v́ xa gia đ́nh, cha mẹ, bạn bè
và quê hương. Sự khủng hoảng tinh thần này làm các Sơ khó thích nghi với hoàn
cảnh của cuộc sống mới với những dị biệt môi trường, ngôn ngữ và văn hoá. Nhiều
Sơ, tập sinh và ứng sinh ngày càng nản chí và chuyển hướng trong ṿng hai năm
đầu.
Khi vừa đến Hoa Kỳ, giám mục Donohue địa phận Fresno, cung ứng nhà cửa và các
tiện nghi khác cho các Sơ. Các Sư Huynh ở San Francisco cung ứng những nhu cầu
cần thiết. Sau 2 năm, các Sơ tự túc về mọi mặt và ở tại Fresno cho đến năm 1980.
Sư Huynh George Kohles, fsc, thuộc tỉnh ḍng San Francisco, làm liên lạc viên
giữa các Sơ và các Sư Huynh cho đến bây giờ.
Năm 1979, theo lời yêu cầu của vị phụ tá giám mục địa phận San Francisco, Pierre
Dumaine, các Sơ di chuyển về San Jose để trợ giúp những người Việt công giáo
trong địa phận. Linh mục Joseph Cao Phương Kỷ, ss., làm tuyên úy cho các Sơ từ
năm 1980.
Khi đến San Jose, 2 Sơ lập tức khởi sự dạy giáo lư và tiếng Việt. Dân số người
Việt ngày càng tăng và nhu cầu giáo dục cho họ ngày càng cấp bách.
Năm 1982, như là kết quả của sự tiện tặn, các Sơ với sự bảo trợ của một bà bác
sĩ hảo tâm đứng tên, đă tậu được một ngôi nhà 4 pḥng ngủ. Đến năm 1985, các Sơ
làm chủ căn nhà nhưng vẫn c̣n nợ ngân hàng đến 70,000 đô. Giá trị căn nhà này,
cho đến nay, có thể lên đến 320,000 đô.
* Việc tông đồ, các dự án và cách thực hiện trong tương lai.
Mục tiêu hàng đầu của ḍng Nữ Tu La San là giáo dục trẻ em, đặc biệt trẻ em
nghèo. Tuy nhiên, hoàn cảnh thực tế tại Hoa Kỳ không cho phép các Sơ theo đuổi
mục đích đó, nên các Sơ dấn thân phục vụ trong công tác từ thiện và xă hội: làm
việc trong các nhà hưu dưỡng, các bệnh viện, tại giáo xứ Việt Nam. Làm như vậy,
các Sơ vừa tiếp tục lư tưởng sống đời tu La San vừa đáp ứng được 2 nhu cầu : tự
túc kinh tế và giúp đỡ các Sơ c̣n ở tại Việt Nam.
Trong những ngày cuối tuần, các Sơ thăm viếng những gia đ́nh Việt Nam tị nạn mới
đến Hoa Kỳ, và tham gia sinh hoạt với các hội đoàn như Cursillo, Đạo Binh Đức Mẹ,
vv.
Có một số khá đông thanh nữ tỏ ư thích gia nhập hội ḍng và t́m hiểu hơn về ơn
gọi La San. Đáng tiếc là các Sơ thiếu phương tiện để thoả măn ước vọng của những
thanh nữ đó : các Sơ thiếu cơ sở và nhân sự để cung ứng huấn luyện những tu sinh
mới.
Các Sơ nghiên cứu 2 giải pháp sau đây :
(1) Mua một ngôi nhà lân cận khoảng 350-370,000 đô
(2) hoặc mở rộng cơ sở hiện có với chi phí khoảng 100-150,000 đô
Giải pháp nào cũng có thể đáp ứng nhu cầu đón nhận tu sinh mới : các ứng sinh có
thể học thêm về đời tu tại các nhà ḍng bạn, và các Sư Huynh có thể giúp huấn
luyện về linh đạo La San.
Cơ sở mới hoặc mở rộng cơ sở cũ c̣n có lợi điểm là làm cư xá cho các Sơ ở Việt
Nam và Thái Lan sang du học tại Hoa Kỳ.
Năm 1991, giám mục địa phận San Jose, Pierre Dumaine viết cho Sư Huynh Tổng
Quyền John Joshnston : "Địa phận San Jose chúng tôi đặc biệt vui sướng được sự
hiện diện của các Sư Huynh giữa nhiều cộng đoàn tu sĩ khác ở đây. Các Sư Huynh
Việt Nam quả đă thực hiện tốt đẹp việc tông đồ loan giảng tin mừng và huấn luyện
người công giáo Việt Nam trong địa phận chúng tôi. Chương tŕnh giáo lư thật
thành công, lôi kéo hàng trăm thanh niên nam nữ khao khát học hỏi hơn nữa về đức
tin. Các Sư Huynh sát cánh làm việc với các Nữ Tu La San và tỏ hiện sự đoàn kết
cộng tác vào thừa tác vụ của Giáo Hội địa phương".
Lời lẽ trên chẳng những phù hợp với các Sư Huynh mà c̣n rất xứng đáng với các nữ
tu La San vậy.
5. Cộng Đoàn tại Bangkok, Thái Lan
Khi c̣n làm giám tỉnh, SH Bernard Lê Văn Tâm có nhiều dịp đi thăm viếng những
trường của các Sư Huynh tại phụ tỉnh Thái Lan. Ở đó, SH cũng nhận thấy những khó
khăn tương tợ : thiếu tu sĩ giáo viên cho các lớp nhỏ, thiếu nhân viên cho các
dịch vụ thường nhật, và thiếu ơn gọi cho người Thái.
Nhóm nữ tu La San người Thái đầu tiên xuất phát từ một nguồn gốc khá đặc biệt.
SH Joseph Văn Khôi, phụ tá giám tỉnh của phụ tỉnh Thái Lan lúc bấy giờ, là một
người bạn thân của gia đ́nh Sơ Anna Souvanna Kingkarn, thuộc ḍng địa phận Các
Nữ T́ của Đức Nữ Vương Maria. Sơ này lại có người em trai nguyên là một SH La
San. Chắc hẳn Sơ đă nghe nói đến ḍng Nữ Tu La San.
Một hôm, Sơ đến gặp SH phụ tá giám tỉnh và xin giúp Sơ t́m một ḍng khác, và nếu
được, th́ xin gia nhập ḍng Nữ Tu La San. Lư do Sơ nêu ra để biện minh cho sự
chuyển ḍng là v́ Sơ không thoả măn và bất an tâm trí trong ơn gọi đang có.
Năm 1973, SH Joseph Văn Khôi đi tham dự buổi họp các SH Giám Tỉnh vùng Đông Nam
Châu Á tại Cameron Highlands, Mă Lai. SH Văn Khôi tŕnh cùng hội nghị sự việc kể
trên. SH Michael, phụ quyền đặc trách vùng Á Đông thời bấy giờ, và tất cả các SH
giám tỉnh đều chấp thuận và khuyến khích sự hiện diện của nữ tu La San tại Thái
Lan. SH Bruno Trần Văn Bằng, lúc đó là giám tỉnh Saigon, đề nghị nên gởi các ứng
sinh qua Việt Nam để được huấn luyện, sau đó các Sơ sẽ trở về nguyên quán để
giúp các Sư Huynh trong việc tông đồ.
Một nhóm 4 Sơ, nguyên thuộc ḍng địa phận Nữ T́ của Đức Nữ Vương Maria, được sự
chấp thuận của các cơ quan hữu trách, đă đến Saigon ngày 11 tháng 11 năm 1973.
Ba tuần sau, một ứng sinh thứ 5 nhập cuộc. Các Sơ Thái bắt đầu năm nhà tập, và
tuyên khấn lần đầu trong nhà nguyện của tập viện tại Mai Thôn ngày 26 tháng 12
năm 1974.
Sau khi trở về lại Bangkok, và kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1975, các nữ tu La San
Thái hầu như hoàn toàn bị mất liên lạc với Nhà Mẹ. Tin tức liên lạc trở thành
khó khăn và rất ít, và luôn luôn chuyển nhờ qua trung gian. Sự nghi ngờ, kiểm
duyệt, điều tra và lo sợ giữa 2 hai quốc gia làm cho mọi sự liên lạc, ngay cả
bằng thư từ, trở thành rất khó khăn. Cộng đoàn Bangkok tuy vẫn tiếp tục tự củng
cố chỗ đứng của ḿnh, nhưng đă không thể làm ǵ để giúp đỡ Nhà Mẹ được.
Thêm vào đó, giáo quyền Bangkok đ̣i hỏi hồ sơ chứng nhận rằng các nữ tu La San
Thái thật sự trực thuộc ḍng đă được giáo quyền Saigon phê chuẩn.
Nhiều đề nghị, khuyến khích và khuyên bảo các nữ tu La San Thái nên sát nhập với
ḍng Nữ Tu La San Guadalupanas ở Mễ Tây Cơ, v́ ḍng này đă hưởng quy chế ḍng
giáo hoàng từ năm 1976.
Tuy nhiên, các nữ tu La San Thái không muốn rời bỏ nguồn cội của ḿnh, và chấp
thuận chờ đợi, dù phải bị tước mất những quyền lợi mà những ḍng khác đă được
chính thức công nhận ở Thái Lan có quyền thừa hưởng.
Tháng 8 năm 1988, Sơ Mary Ann Sunantha và SH Joseph Văn Khôi tham dự Tổng Công
Hội của các nữ tu La San Mễ Tây Cơ, và dọ hỏi các Sơ Mễ Tây Cơ có sẵn sàng nhận
các nữ tu La San Việt Nam vào ḍng của họ không. Câu trả lời là ưng thuận.
Tuy nhiên, các Sơ Thái quyết định chờ đợi, trong khi đó th́ cảm tưởng chung của
các Sơ ở San Jose và Mai Thôn th́ không thuận việc sát nhập.
Nhân dịp Tổng Công Hội tại Mai Thôn, Saigon, vào tháng 2 năm 1989, các Sơ Thái
vui mừng hoà điệu cùng các Chị Em ở San Jose và Mai Thôn tuyên ngôn rằng các Sơ
ước muốn giữ chân tính nữ tu La San của ḿnh trong nhà Ḍng Nữ Tu La San thuộc
địa phận Saigon, Việt Nam.
Ba trong 5 nữ tu La San Thái đầu tiên c̣n bền vững trong ơn gọi và đă tuyên khấn
trọn đời.
Tại cộng đoàn Bangkok, hiện nay có sáu Sơ Thái, trong số đó, 4 Sơ đă khấn trọn,
và 2 Sơ khấn tạm. Cô tập sinh Bernadette Than Ya Suetrong kết thúc năm nhà tập
vào đầu tháng 3 năm 1991 tại tập viện của các nữ tu Canossan ở Singapore. Sơ
Bernadette đă nhận lănh áo ḍng và khấn lần đầu ngày 7 tháng 4 năm 1991, tại
Bangkok.
Trong số 4 ứng sinh ở tại Nhà Giữ Trẻ La San, 2 ứng sinh đă măn khoá trung học
tại La Salle College, c̣n 2 ứng sinh kia đi thụ huấn làm thỉnh sinh La San tại
thỉnh viện của các nữ tu Canossan, Singapore.
Các nữ tu La San Thái điều khiển nhà giữ trẻ cho các em bé từ 1 đến 3 tuổi, và
một vườn trẻ cho những em bé từ 3 đến 5 tuổi. Nhà giữ trẻ và vườn trẻ này là một
phần của trường De La Salle College tại Bangkok của các Sư Huynh.
Như để đền bù lại những năm 1975-1988, các Sơ Thái thực hiện 4 cuộc hành tŕnh
sang Việt Nam trong những năm 1988, 1989 và 1990. Các Sơ Thái đă hỗ trợ và đáp
ứng nhiều nhu cầu cho các Sơ ở Mai Thôn, đặc biệt đóng góp vào việc xây dựng tu
viện mới cho Nhà Mẹ.